Chuyên Mục "Y học thường thức"
Showing posts with label Y học thường thức. Show all posts
NewVnNews - Các chuyên gia sức khỏe ước tính có đến hơn 200 loại ung thư khác nhau và chúng có thể xuất hiện ở bất cứ lứa tuổi nào. Một thực tế là số bệnh nhân ung thư ngày một nhiều và các phương pháp trị liệu thì tốn kém mà vẫn không thể đảm bảo xử lý được tận gốc rễ vấn đề. Do đó các thầy thuốc khuyên rằng, nếu bạn quan tâm đến sức khỏe thì ‘Hãy chặn đứng căn bệnh ung thư trước khi nó bắt đầu!’
NewVnNews - Táo bón là tình trạng trẻ đi poo poo cứng, và đi không thường xuyên. Tuy nhiên, tính chất phân và số lần đi cầu khác biệt ở từng trẻ. Đa số trẻ sẽ đi tiêu ít nhất một lần mỗi 2-3 ngày, nhưng có những trẻ có thói quen đường ruột khác biệt, và có thể đi cầu 1 lần một tuần – 10 ngày chẳng hạn. Chúng ta chỉ cần lo lắng về tính chất phân và số lần đi tiêu của trẻ nếu có những triệu chứng, dấu hiệu cho thấy trẻ bị ảnh hưởng vì một trong bốn tứ khoái của con người này.
Táo bón là một tình trạng xảy ra khá thường xuyên của con trẻ. Thống kê cho thấy có ít nhất 30% trẻ bị táo bón cần được quan tâm. Những dấu hiệu thường gặp để ba mẹ dẫn con đi khám là nếu trẻ lâu đi tiêu, poo poo lớn, cứng, đi cầu rặn đau, chảy máu, hoặc trẻ bị dây poo poo ra ngoài quần không kiểm soát được.
Táo bón là một tình trạng xảy ra khá thường xuyên của con trẻ. Thống kê cho thấy có ít nhất 30% trẻ bị táo bón cần được quan tâm. Những dấu hiệu thường gặp để ba mẹ dẫn con đi khám là nếu trẻ lâu đi tiêu, poo poo lớn, cứng, đi cầu rặn đau, chảy máu, hoặc trẻ bị dây poo poo ra ngoài quần không kiểm soát được.
NewVnNews - Bạn có biết? Tăng cân ở những năm đầu đời của trẻ:
Đa số các trẻ sinh ra có cân nặng lúc sinh từ 2.5 đến 4.5 kg.
Trong tuần đầu đời, trẻ thường sụt cân, khoảng 10% trọng lượng cơ thể ban đầu (vd như khi sinh ra được 3kg, thì sau 7 ngày tuổi, trẻ có thể chỉ còn khoảng 2.7kg)
Trẻ thường lấy lại cân nặng lúc sinh trong khoảng từ 10 ngày – 14 ngày tuổi.
Rất khó định nghĩa “tăng cân bình thường” ở trẻ nhỏ, tuy nhiên, những giá trị tăng cân sau được xem là khoảng tăng cân thông thường của trẻ:
• Từ 0 – 3 tháng tuổi, trẻ tăng được khoảng 150-200 gram / tuần (tức khoảng 20-30gram/ngày)
• Từ 3 tháng đến 6 tháng tuổi: trẻ tăng trung bình khoảng 100 gram đến 150 gram / tuần (tức khoảng 15-20gram mỗi ngày)
• Khi trẻ khoảng 6 tháng đến 12 tháng tuổi, tăng cân giảm còn khoảng 70-90gram/tuần (tức khoảng 10gram/ngày)
• Từ 1 tuổi đến 2 tuổi, trẻ tăng được khoảng 2-3 kg/năm
• Từ 2 tuổi đến 5 tuổi, trẻ tăng trung bình khoảng 2 kg mỗi năm.
Bs. Huyên Thảo
Đa số các trẻ sinh ra có cân nặng lúc sinh từ 2.5 đến 4.5 kg.
Trong tuần đầu đời, trẻ thường sụt cân, khoảng 10% trọng lượng cơ thể ban đầu (vd như khi sinh ra được 3kg, thì sau 7 ngày tuổi, trẻ có thể chỉ còn khoảng 2.7kg)
Trẻ thường lấy lại cân nặng lúc sinh trong khoảng từ 10 ngày – 14 ngày tuổi.
Rất khó định nghĩa “tăng cân bình thường” ở trẻ nhỏ, tuy nhiên, những giá trị tăng cân sau được xem là khoảng tăng cân thông thường của trẻ:
• Từ 0 – 3 tháng tuổi, trẻ tăng được khoảng 150-200 gram / tuần (tức khoảng 20-30gram/ngày)
• Từ 3 tháng đến 6 tháng tuổi: trẻ tăng trung bình khoảng 100 gram đến 150 gram / tuần (tức khoảng 15-20gram mỗi ngày)
• Khi trẻ khoảng 6 tháng đến 12 tháng tuổi, tăng cân giảm còn khoảng 70-90gram/tuần (tức khoảng 10gram/ngày)
• Từ 1 tuổi đến 2 tuổi, trẻ tăng được khoảng 2-3 kg/năm
• Từ 2 tuổi đến 5 tuổi, trẻ tăng trung bình khoảng 2 kg mỗi năm.
Bs. Huyên Thảo
NewVnNews - Paracetamol là một loại thuốc hạ sốt thông dụng tưởng chửng như lành tính và an toàn, nhưng loại thuốc này có thể cướp đi tính mạng của bạn một cách vô cùng đơn giản.
Theo tin tức y tế mới nhất, tại Trung tâm Chống độc, Bệnh viện Bạch Mai, các bác sĩ thường hay gặp bệnh nhân bị ngộ độc thuốc đặc biệt là thuốc paracetamol.
Suýt chết vì lạm dụng thuốc Paracetamol quá liều
Ông Nguyễn Văn C. 61 tuổi, trú tại Lục Nam, Bắc Giang phải vào viện cấp cứu vì men gan tăng cao, suy gan. Theo con trai của ông C. ông bị sốt nên ra ngoài hiệu thuốc mua thuốc hạ sốt uống.
Vài ngày sau, ông C. đỡ sốt nhưng người ông cứ mệt mỏi, ăn không ăn được, da vàng và bủng ra. Lúc đầu, mọi người nghĩ ông ốm dậy nên nhìn thế ai dè chỉ có 4 – 5 ngày da ông C. vàng như củ nghệ. Người nhà đưa vào Bệnh viện huyện cấp cứu, bác sĩ giới thiệu lên tuyến trên nên gia đình đưa thẳng ông vào Bệnh viện Bạch Mai.
Ông C. có tiền sử men gan tăng cao nhưng ông không biết bệnh và thường tự mua thuốc về uống. Ông không ngờ vì vỉ thuốc hạ sốt mà gan của ông bị ngộ độc nặng.
Anh Nguyễn Minh T. (30 tuổi, ở Hải Phòng) bị sốt cao 39,50C có lúc lên đến 40 độ, để cắt cơn sốt, anh T. đã uống liền 16 viên thuốc hạ sốt có thành phần paracetamol. Anh T. đến phòng khám tư truyền dịch nhưng bệnh không đỡ
Khi toàn thân có triệu chứng mệt mỏi, chóng mặt, buồn nôn, khó thở... anh T. mới vào BV Việt Tiệp - Hải Phòng cấp cứu và ngay sau đó được chuyển thẳng lên Trung tâm Chống độc Bệnh viện Bạch Mai. Tại đây, các bác sĩ kết luận anh bị ngộ độc thuốc paracetamol trên nền bệnh viêm gan A.
Anh Vũ Cao H. 46 tuổi, trú tại Nho Quan, Ninh Bình nhập viện với tình trạng men gan tăng cao. Anh H có tiền sử nghiện bia rượu nặng. Ngoài ra, hồi tháng 2 anh đi khám ở viện bác sĩ xét nghiệm thấy men gan tăng và có tư vấn anh giảm bia rượu. Lúc đó, anh H. kể được bác sĩ nói có thể do Tết uống nhiều rượu nên men gan tăng hơn chút. Anh chủ quan không điều trị.
Đợt tháng 6 vừa qua, anh bị cảm cúm, sốt nhức đầu nên mua vỉ thuốc paracetamol về điều trị. Anh H. uống thuốc theo chỉ dẫn của người bán thuốc và bị ngộ độc thuốc vì uống quá liều và men gan tăng cao nhanh chóng khiến tình trạng bệnh nặng hơn toàn thân anh da vàng như củ nghệ, mắt vàng, người mệt mỏi.
Anh H. phải nằm viện điều trị 10 ngày để giải độc cho gan và điều trị men gan tăng. Nguyên nhân, anh H. rút ra cho mình là uống nhiều rượu bia, men gan tăng không biết nên khi uống thuốc vào càng khiến gan bị ngộ độc hơn.
Dễ ngộ độc vì sử dụng thuốc Paracetamol quá liều
Dễ ngộ độc vì sử dụng thuốc Paracetamol quá liều
Theo bác sĩ chuyên khoa II Đặng Thị Xuân – Trung tâm Chống độc, Bệnh viện Bạch Mai tại Trung tâm Chống độc thường xuyên tiếp nhận các trường hợp bị ngộ độc thuốc do uống thuốc quá liều hoặc tự tử.
Bác sĩ Xuân cho biết đa số bệnh nhân bị ngộ độc thuốc do tự mua thuốc về uống là chính. Một số ít người do uống nhầm thuốc hoặc cố ý tự tử. Tuy nhiên, dù lý do gì thói quen tự sử dụng thuốc của người dân không chỉ dẫn đến nguy cơ kháng kháng sinh trong tương lai mà cái nhìn ra trước mắt là ngộ độc thuốc.
Bác sĩ Xuân cho biết nhiều bệnh nhân bị men gan tăng nhưng triệu chứng âm thầm, họ không biết bệnh khi uống thuốc đặc biệt thuốc chứa paracetamol không có hướng dẫn của bác sĩ dẫn đến ngộ độc gan, người vàng ệch như nghệ.
Các bệnh nhân điều trị trong trung tâm đa số ngộ độc thuốc hạ sốt, thuốc trị bệnh tim, thuốc chống trầm cảm, thuốc ngủ...
Theo những Dược sĩ đang công tác tại Trường Cao đẳng Y Dược Pasteur cho biết, thuốc paracetamol là thuốc giảm đau, hạ sốt thông thường và phổ biến nhất hiện nay, được bán mà không cần sự kê đơn của bác sĩ. Người bệnh thường có tâm lý sử dụng ngay paracetamol khi có triệu chứng sốt và cảm cúm dễ dẫn đến ngộ độc.
Paracetamol là thuốc tân dược thông dụng có mặt ở các loại thuốc hạ sốt, giảm đau. Khi vào cơ thể thành phần paracetamol được chuyển hóa tại gan và khi dùng quá kiều thì paracetamol sẽ được chuyển hóa tạo ra các chất độc với tế bào gan, gây phá hủy tế bào gan dẫn đến viêm gan nhiễm độc mà hậu quả nặng nề là suy gan cấp tính, vàng mắt vàng da, rối loạn đông máu, xuất huyết nhiều nơi, hôn mê gan rồi tử vong đặc biệt là người có bệnh lý ở gan như men gan tăng, viêm gan, xơ gan…
Tại sao uống thuốc Paracetamol chưa quá liều so với hướng dẫn mà vẫn ngộ độc?
Bởi ít người biết rằng dùng Paracetamol kết hợp với uống rượu thì độc tính của Paracetamol với gan tăng lên hàng ngàn lần.
Cái nguy hiểm của Paracetamol là hủy hoại tế bào gan không hồi phục. Cảm cúm cảm lạnh mức độ nhẹ thông thường thì sao cứ chọn dùng Paracetamol làm gì chứ? Có đau quá đâu? Có sốt cao quá đâu? Mà thiếu gì thuốc chữa cảm không chứa Paracetamol chứ?
Các bạn nhớ đừng dại mà cấp thuốc chứa Para cho mấy ông bợm nhậu nhé. Oan gia đấy. Dù đã dặn kỹ là ko được uống rượu nhưng mấy ổng không thực hiện được đâu.
NGOẠI LỆ:
Những ý kiến ở trên là chỉ nói chung về sự nguy hiểm của Paracetamol. Hạn chế tối đa dùng nó trong các trường hợp "cảm xoàng".
Nhưng nếu bị SỐT XUẤT HUYẾT:
1/ Xét nghiệm máu
- Xét nghiệm tại BV hoặc gọi về nhà xét nghiệm.
- Xét nghiệm 1 ngày sau sốt và xét nghiệm lại sau 2 ngày để có phác đồ điều trị đúng hướng.
- Khi tiểu cầu sụt giảm, xét nghiệm liên tục (3, 4 lần/ngày) để theo dõi.
- Người bình thường có khoảng 150.000 - 300.000 tiểu cầu/mm3 máu.
- Kết quả xét nghiệm nếu chỉ còn dưới 20 - 30.000 tiểu cầu/mm3 máu, bệnh nhân cần nhập viện ngay để được bổ sung tiểu cầu.
2/ Dùng thuốc:
- Đo nhiệt độ thường xuyên để kịp thời hạ sốt.
- Hạ sốt bằng paracetamol 6 tiếng/lần, không dùng loại thuốc hạ sốt khác.
- Cố gắng hạ sốt tự nhiên bằng chườm nước ấm nóng lên trán và cơ thể.
- Tuyệt đối không dùng kháng sinh, thuốc aspirin và ibuprofen.
- Tuyệt đối không cạo gió để hạ sốt
- Khuyến khích uống nhiều nước oresol hoặc nước sôi để nguội, nước trái cây (nước cam, chanh...). Cần pha oresol theo đúng tỷ lệ hướng dẫn trên bao bì.
- Nếu có viêm nhiễm chỗ khác phải có chỉ định của bác sỹ mới dùng thuốc.
![]() |
| Có rất nhiều biệt dược của paracetamol |
Theo tin tức y tế mới nhất, tại Trung tâm Chống độc, Bệnh viện Bạch Mai, các bác sĩ thường hay gặp bệnh nhân bị ngộ độc thuốc đặc biệt là thuốc paracetamol.
Suýt chết vì lạm dụng thuốc Paracetamol quá liều
Ông Nguyễn Văn C. 61 tuổi, trú tại Lục Nam, Bắc Giang phải vào viện cấp cứu vì men gan tăng cao, suy gan. Theo con trai của ông C. ông bị sốt nên ra ngoài hiệu thuốc mua thuốc hạ sốt uống.
Vài ngày sau, ông C. đỡ sốt nhưng người ông cứ mệt mỏi, ăn không ăn được, da vàng và bủng ra. Lúc đầu, mọi người nghĩ ông ốm dậy nên nhìn thế ai dè chỉ có 4 – 5 ngày da ông C. vàng như củ nghệ. Người nhà đưa vào Bệnh viện huyện cấp cứu, bác sĩ giới thiệu lên tuyến trên nên gia đình đưa thẳng ông vào Bệnh viện Bạch Mai.
Ông C. có tiền sử men gan tăng cao nhưng ông không biết bệnh và thường tự mua thuốc về uống. Ông không ngờ vì vỉ thuốc hạ sốt mà gan của ông bị ngộ độc nặng.
Anh Nguyễn Minh T. (30 tuổi, ở Hải Phòng) bị sốt cao 39,50C có lúc lên đến 40 độ, để cắt cơn sốt, anh T. đã uống liền 16 viên thuốc hạ sốt có thành phần paracetamol. Anh T. đến phòng khám tư truyền dịch nhưng bệnh không đỡ
Khi toàn thân có triệu chứng mệt mỏi, chóng mặt, buồn nôn, khó thở... anh T. mới vào BV Việt Tiệp - Hải Phòng cấp cứu và ngay sau đó được chuyển thẳng lên Trung tâm Chống độc Bệnh viện Bạch Mai. Tại đây, các bác sĩ kết luận anh bị ngộ độc thuốc paracetamol trên nền bệnh viêm gan A.
Anh Vũ Cao H. 46 tuổi, trú tại Nho Quan, Ninh Bình nhập viện với tình trạng men gan tăng cao. Anh H có tiền sử nghiện bia rượu nặng. Ngoài ra, hồi tháng 2 anh đi khám ở viện bác sĩ xét nghiệm thấy men gan tăng và có tư vấn anh giảm bia rượu. Lúc đó, anh H. kể được bác sĩ nói có thể do Tết uống nhiều rượu nên men gan tăng hơn chút. Anh chủ quan không điều trị.
Đợt tháng 6 vừa qua, anh bị cảm cúm, sốt nhức đầu nên mua vỉ thuốc paracetamol về điều trị. Anh H. uống thuốc theo chỉ dẫn của người bán thuốc và bị ngộ độc thuốc vì uống quá liều và men gan tăng cao nhanh chóng khiến tình trạng bệnh nặng hơn toàn thân anh da vàng như củ nghệ, mắt vàng, người mệt mỏi.
Anh H. phải nằm viện điều trị 10 ngày để giải độc cho gan và điều trị men gan tăng. Nguyên nhân, anh H. rút ra cho mình là uống nhiều rượu bia, men gan tăng không biết nên khi uống thuốc vào càng khiến gan bị ngộ độc hơn.
Dễ ngộ độc vì sử dụng thuốc Paracetamol quá liều
![]() |
| Bệnh nhân ngộ độc thuốc da vàng ệch như củ nghệ |
Theo bác sĩ chuyên khoa II Đặng Thị Xuân – Trung tâm Chống độc, Bệnh viện Bạch Mai tại Trung tâm Chống độc thường xuyên tiếp nhận các trường hợp bị ngộ độc thuốc do uống thuốc quá liều hoặc tự tử.
Bác sĩ Xuân cho biết đa số bệnh nhân bị ngộ độc thuốc do tự mua thuốc về uống là chính. Một số ít người do uống nhầm thuốc hoặc cố ý tự tử. Tuy nhiên, dù lý do gì thói quen tự sử dụng thuốc của người dân không chỉ dẫn đến nguy cơ kháng kháng sinh trong tương lai mà cái nhìn ra trước mắt là ngộ độc thuốc.
Bác sĩ Xuân cho biết nhiều bệnh nhân bị men gan tăng nhưng triệu chứng âm thầm, họ không biết bệnh khi uống thuốc đặc biệt thuốc chứa paracetamol không có hướng dẫn của bác sĩ dẫn đến ngộ độc gan, người vàng ệch như nghệ.
Các bệnh nhân điều trị trong trung tâm đa số ngộ độc thuốc hạ sốt, thuốc trị bệnh tim, thuốc chống trầm cảm, thuốc ngủ...
Theo những Dược sĩ đang công tác tại Trường Cao đẳng Y Dược Pasteur cho biết, thuốc paracetamol là thuốc giảm đau, hạ sốt thông thường và phổ biến nhất hiện nay, được bán mà không cần sự kê đơn của bác sĩ. Người bệnh thường có tâm lý sử dụng ngay paracetamol khi có triệu chứng sốt và cảm cúm dễ dẫn đến ngộ độc.
Paracetamol là thuốc tân dược thông dụng có mặt ở các loại thuốc hạ sốt, giảm đau. Khi vào cơ thể thành phần paracetamol được chuyển hóa tại gan và khi dùng quá kiều thì paracetamol sẽ được chuyển hóa tạo ra các chất độc với tế bào gan, gây phá hủy tế bào gan dẫn đến viêm gan nhiễm độc mà hậu quả nặng nề là suy gan cấp tính, vàng mắt vàng da, rối loạn đông máu, xuất huyết nhiều nơi, hôn mê gan rồi tử vong đặc biệt là người có bệnh lý ở gan như men gan tăng, viêm gan, xơ gan…
Tại sao uống thuốc Paracetamol chưa quá liều so với hướng dẫn mà vẫn ngộ độc?
Bởi ít người biết rằng dùng Paracetamol kết hợp với uống rượu thì độc tính của Paracetamol với gan tăng lên hàng ngàn lần.
Cái nguy hiểm của Paracetamol là hủy hoại tế bào gan không hồi phục. Cảm cúm cảm lạnh mức độ nhẹ thông thường thì sao cứ chọn dùng Paracetamol làm gì chứ? Có đau quá đâu? Có sốt cao quá đâu? Mà thiếu gì thuốc chữa cảm không chứa Paracetamol chứ?
Các bạn nhớ đừng dại mà cấp thuốc chứa Para cho mấy ông bợm nhậu nhé. Oan gia đấy. Dù đã dặn kỹ là ko được uống rượu nhưng mấy ổng không thực hiện được đâu.
NGOẠI LỆ:
Những ý kiến ở trên là chỉ nói chung về sự nguy hiểm của Paracetamol. Hạn chế tối đa dùng nó trong các trường hợp "cảm xoàng".
Nhưng nếu bị SỐT XUẤT HUYẾT:
1/ Xét nghiệm máu
- Xét nghiệm tại BV hoặc gọi về nhà xét nghiệm.
- Xét nghiệm 1 ngày sau sốt và xét nghiệm lại sau 2 ngày để có phác đồ điều trị đúng hướng.
- Khi tiểu cầu sụt giảm, xét nghiệm liên tục (3, 4 lần/ngày) để theo dõi.
- Người bình thường có khoảng 150.000 - 300.000 tiểu cầu/mm3 máu.
- Kết quả xét nghiệm nếu chỉ còn dưới 20 - 30.000 tiểu cầu/mm3 máu, bệnh nhân cần nhập viện ngay để được bổ sung tiểu cầu.
2/ Dùng thuốc:
- Đo nhiệt độ thường xuyên để kịp thời hạ sốt.
- Hạ sốt bằng paracetamol 6 tiếng/lần, không dùng loại thuốc hạ sốt khác.
- Cố gắng hạ sốt tự nhiên bằng chườm nước ấm nóng lên trán và cơ thể.
- Tuyệt đối không dùng kháng sinh, thuốc aspirin và ibuprofen.
- Tuyệt đối không cạo gió để hạ sốt
- Khuyến khích uống nhiều nước oresol hoặc nước sôi để nguội, nước trái cây (nước cam, chanh...). Cần pha oresol theo đúng tỷ lệ hướng dẫn trên bao bì.
- Nếu có viêm nhiễm chỗ khác phải có chỉ định của bác sỹ mới dùng thuốc.
DS Sỹ Thanh, Infonet
NewVnNews
NewVnNews
NewVnNews - “Bác sĩ ơi, con em có bị hẹp bao qui đầu không vậy?” – đây là một câu hỏi thường gặp ở nhiều gia đình có bé trai, và không ít trường hợp, câu hỏi này được đưa ra trong lần gặp bác sĩ đầu tiên để khám tổng quát bé, thường trong khoảng 1-2 tháng tuổi. Nhiều cha mẹ ám ảnh chuyện hẹp bao qui đầu đến mức quyết tâm kéo ngược da qui đầu của trẻ, tự mình hoặc nhờ y bác sĩ, để thấy an tâm, nhưng không biết cách thực hành này có thể gây nguy hại không nhỏ về sau cho bé. Vì vậy, đề tài nói chuyện lần này là về lĩnh vực nhạy cảm nhưng gây không ít hiểu lầm và đau thương này của trẻ trai.
Hẹp bao qui đầu, theo định nghĩa, là khi da bao qui đầu – vùng da xung quay đầu chim – không kéo ngược lại được.
Thông tin quan trọng mà ba mẹ cần ghi nhớ, là tỉ lệ hẹp bao qui đầu thật – bệnh lý - cần can thiệp, là rất thấp, con số thống kê chỉ khoảng dưới 1%.
Một điều cần ghi nhớ nữa, là từ lúc bé sinh ra, da qui đầu của bé sẽ dính chặt vào thân chim, và sẽ từ từ tự tách ra khỏi thân chim khi bé lớn lên. Nếu muốn tưởng tượng, sẽ giống như bông chuối vậy, ban đầu khép thật chặt, sau đó các lớp vỏ cứng mới từ từ dang ra để lộ những trái chuối con. Nhưng ở người, sự tách này diễn ra khá chậm trãi. Khoảng 4 tuổi, 90% bé trai sẽ có da qui đầu tự tách ra, và đến tuổi dậy thì, 99% - gần hết – trẻ trai có da qui đầu tách ra, và có thể tự kéo ngược lại. Vì vậy, trong giai đoạn này, người ta gọi là “hẹp bao qui đầu sinh lý” – có nghĩa là một tình trạng bình thường. Người chăm sóc trẻ nên kiên nhẫn chờ đợi, và không nên suy nghĩ quá nhiều, hoặc manh động quá mức.
Việc cố tách da qui đầu của trẻ, kéo ngược lại, khi cơ thể trẻ chưa sẵn sàng, giống như bạn cố gắng tách các bẹ bông chuối ra khi bông còn khép kín. Điều này không những gây đau đớn cho trẻ, mà còn gây tổn thương và để lại sẹo về sau. Một số trường hợp khi cố kéo ngược da qui đầu, lại phải vào cấp cứu vì không kéo da qui đầu về vị trí ban đầu được do chim bé bị sưng, viêm. Một số trẻ bị sẹo do da qui đầu bị kéo ngược quá sớm, lại có thể bị hẹp bao qui đầu thật sự về sau, do sẹo thít chặt quanh chim. Có nghĩa là bạn tự gây ra tình trạng bạn muốn tránh cho con, một cách rất không cần thiết.
Một số người quan niệm phải kéo ngược da qui đầu để vệ sinh. Điều này cũng không đúng lắm. Chỉ đúng khi da qui đầu của bé đã tự tách ra, còn khi chưa tách, thì không cần vệ sinh làm gì. Một số trẻ có thể thấy những cục trắng, vàng ở dưới da qui đầu, nhưng đó chỉ là những tế bào chết từ da qui đầu thôi, hoàn toàn lành tính và không gây hại hoặc gây nhiễm trùng gì cả.
Rất nhiều ba mẹ đánh đồng việc hẹp bao qui đầu với việc phải cắt bao qui đầu cho trẻ, điều này không đúng. Việc quyết định cắt bao qui đầu vì hẹp bao qui đầu bệnh lý chiếm tỉ lệ rất ít. Nhiều nơi trên thế giới, việc cắt bao qui đầu là một quan niêm về văn hóa, niềm tin. Nhiều nơi khác, cắt bao qui đầu là một lực chọn của người chăm sóc trẻ, nhưng không phải là một chuyện bắt buộc. Lựa chọn này có, là do có bằng chứng cho thấy việc cắt bao qui đầu của trẻ có liên quan đến việc giảm nguy cơ nhiễm trùng tiểu, nguy cơ bị các bệnh lây nhiễm qua đường tình dục, nguy cơ ung thư dương vật khi trẻ trưởng thành.
Tuy nhiên, đây vẫn là lựa chọn có-không của ba mẹ và người chăm sóc trẻ, vì khi thực hiện thủ thuật cắt bao qui đầu cần phải gây mê, gây đau đớn, sợ hãi, có nguy cơ nhiễm trùng, biến chứng từ thủ thuật, cũng như cũng có thể sang chấn tâm lý cho trẻ ở một số trường hợp.
Một điều ba mẹ cần lo, nhưng không thấy ai lo, là lỗ tiểu có mọc ở đúng vị trí không. Điều này thường được kiểm tra khi trẻ được khám tổng quát lúc mới sinh, hoặc khi trẻ được 2-4 tháng tuổi. Lỗ tiểu đúng chỗ là tại đầu chim. Nếu các bạn thấy bé đi tiểu mà nước tiểu không ra từ đầu chim, mà lại ra ở thân dưới hoặc thân trên của dương vật, thì nên cho bé đi khám bác sĩ ngay nhé.
Tóm lại, đây là một số điểm cần ghi nhớ:
1. Không được cố gắng kéo ngược bao qui đầu để vệ sinh. Không cần vệ sinh bên trong da qui đầu ở trẻ nhỏ
2. Đa số các trẻ sẽ có tình trạng hẹp bao qui đầu sinh lý – điều này là bình thường. Da qui đầu sẽ tự tách khỏi chim dần dần, và xảy ra ở gần như tất cả các bé trai trong giai đoạn dậy thì.
3. Hẹp bao qui đầu bệnh lý rất ít gặp, chiếm dưới 1% dân số nam
4. Nên cho trẻ đi khám bác sĩ nếu sau khi dậy thì (14-15 tuổi) mà bao qui đầu chưa tự tách, hoặc nếu trẻ khó chịu, đau khi đi tè.
5. Cắt bao qui đầu là một điều trị cho hẹp bao qui đầu bệnh lý, nhưng chúng ta cũng có thể chọn cắt bao qui đầu cho trẻ vì có một số lợi ích nhất định. Nên cân nhắc giữa những lợi ích và bất lợi (biến chứng, đau…) ở từng trường hợp khi quyết định cắt bao qui đầu.
Bs. Huyên Thảo.
Hẹp bao qui đầu, theo định nghĩa, là khi da bao qui đầu – vùng da xung quay đầu chim – không kéo ngược lại được.
Thông tin quan trọng mà ba mẹ cần ghi nhớ, là tỉ lệ hẹp bao qui đầu thật – bệnh lý - cần can thiệp, là rất thấp, con số thống kê chỉ khoảng dưới 1%.
Một điều cần ghi nhớ nữa, là từ lúc bé sinh ra, da qui đầu của bé sẽ dính chặt vào thân chim, và sẽ từ từ tự tách ra khỏi thân chim khi bé lớn lên. Nếu muốn tưởng tượng, sẽ giống như bông chuối vậy, ban đầu khép thật chặt, sau đó các lớp vỏ cứng mới từ từ dang ra để lộ những trái chuối con. Nhưng ở người, sự tách này diễn ra khá chậm trãi. Khoảng 4 tuổi, 90% bé trai sẽ có da qui đầu tự tách ra, và đến tuổi dậy thì, 99% - gần hết – trẻ trai có da qui đầu tách ra, và có thể tự kéo ngược lại. Vì vậy, trong giai đoạn này, người ta gọi là “hẹp bao qui đầu sinh lý” – có nghĩa là một tình trạng bình thường. Người chăm sóc trẻ nên kiên nhẫn chờ đợi, và không nên suy nghĩ quá nhiều, hoặc manh động quá mức.
Việc cố tách da qui đầu của trẻ, kéo ngược lại, khi cơ thể trẻ chưa sẵn sàng, giống như bạn cố gắng tách các bẹ bông chuối ra khi bông còn khép kín. Điều này không những gây đau đớn cho trẻ, mà còn gây tổn thương và để lại sẹo về sau. Một số trường hợp khi cố kéo ngược da qui đầu, lại phải vào cấp cứu vì không kéo da qui đầu về vị trí ban đầu được do chim bé bị sưng, viêm. Một số trẻ bị sẹo do da qui đầu bị kéo ngược quá sớm, lại có thể bị hẹp bao qui đầu thật sự về sau, do sẹo thít chặt quanh chim. Có nghĩa là bạn tự gây ra tình trạng bạn muốn tránh cho con, một cách rất không cần thiết.
Một số người quan niệm phải kéo ngược da qui đầu để vệ sinh. Điều này cũng không đúng lắm. Chỉ đúng khi da qui đầu của bé đã tự tách ra, còn khi chưa tách, thì không cần vệ sinh làm gì. Một số trẻ có thể thấy những cục trắng, vàng ở dưới da qui đầu, nhưng đó chỉ là những tế bào chết từ da qui đầu thôi, hoàn toàn lành tính và không gây hại hoặc gây nhiễm trùng gì cả.
Rất nhiều ba mẹ đánh đồng việc hẹp bao qui đầu với việc phải cắt bao qui đầu cho trẻ, điều này không đúng. Việc quyết định cắt bao qui đầu vì hẹp bao qui đầu bệnh lý chiếm tỉ lệ rất ít. Nhiều nơi trên thế giới, việc cắt bao qui đầu là một quan niêm về văn hóa, niềm tin. Nhiều nơi khác, cắt bao qui đầu là một lực chọn của người chăm sóc trẻ, nhưng không phải là một chuyện bắt buộc. Lựa chọn này có, là do có bằng chứng cho thấy việc cắt bao qui đầu của trẻ có liên quan đến việc giảm nguy cơ nhiễm trùng tiểu, nguy cơ bị các bệnh lây nhiễm qua đường tình dục, nguy cơ ung thư dương vật khi trẻ trưởng thành.
Tuy nhiên, đây vẫn là lựa chọn có-không của ba mẹ và người chăm sóc trẻ, vì khi thực hiện thủ thuật cắt bao qui đầu cần phải gây mê, gây đau đớn, sợ hãi, có nguy cơ nhiễm trùng, biến chứng từ thủ thuật, cũng như cũng có thể sang chấn tâm lý cho trẻ ở một số trường hợp.
Một điều ba mẹ cần lo, nhưng không thấy ai lo, là lỗ tiểu có mọc ở đúng vị trí không. Điều này thường được kiểm tra khi trẻ được khám tổng quát lúc mới sinh, hoặc khi trẻ được 2-4 tháng tuổi. Lỗ tiểu đúng chỗ là tại đầu chim. Nếu các bạn thấy bé đi tiểu mà nước tiểu không ra từ đầu chim, mà lại ra ở thân dưới hoặc thân trên của dương vật, thì nên cho bé đi khám bác sĩ ngay nhé.
Tóm lại, đây là một số điểm cần ghi nhớ:
1. Không được cố gắng kéo ngược bao qui đầu để vệ sinh. Không cần vệ sinh bên trong da qui đầu ở trẻ nhỏ
2. Đa số các trẻ sẽ có tình trạng hẹp bao qui đầu sinh lý – điều này là bình thường. Da qui đầu sẽ tự tách khỏi chim dần dần, và xảy ra ở gần như tất cả các bé trai trong giai đoạn dậy thì.
3. Hẹp bao qui đầu bệnh lý rất ít gặp, chiếm dưới 1% dân số nam
4. Nên cho trẻ đi khám bác sĩ nếu sau khi dậy thì (14-15 tuổi) mà bao qui đầu chưa tự tách, hoặc nếu trẻ khó chịu, đau khi đi tè.
5. Cắt bao qui đầu là một điều trị cho hẹp bao qui đầu bệnh lý, nhưng chúng ta cũng có thể chọn cắt bao qui đầu cho trẻ vì có một số lợi ích nhất định. Nên cân nhắc giữa những lợi ích và bất lợi (biến chứng, đau…) ở từng trường hợp khi quyết định cắt bao qui đầu.
Bs. Huyên Thảo.
NewVnNews
NewVnNews - Khi tác động vào rốn là có thể kích phát kinh khí, sơ thông kinh lạc, cân bằng âm dương, điều tiết công năng của lục phủ ngũ tạng, nhờ vậy có thể phòng ngừa và chữa trị bệnh tật.
1. Vị trí của rốn trong cơ thể:
Đông y quan niệm cơ thể người là một chỉnh thể. Lục phủ ngũ tạng ở bên trong và tứ chi bách hài, bỉ mao tẩu lý ở bên ngoài được nối liền với nhau bởi hệ thống các đường Kinh lạc, tạo thành một chỉnh thể hữu cơ thống nhất.
Trong chỉnh thể đó, rốn có vị trí tương ứng với huyệt Thần khuyết - một vị tri huyệt rất đặc biệt, là cầu nối quan trọng trong hệ thống các đường Kinh Lạc. Huyệt Thần khuyết có quan hệ mật thiết với lục phủ ngũ tạng, 12 kinh mạch và kỳ kinh bát mạch.
Như thế có thể thấy, rốn có một vị trí rất quan trọng. Khi tác động vào rốn là có thể kích phát kinh khí, sơ thông kinh lạc, cân bằng âm dương và điều tiết công năng của lục phủ ngũ tạng, nhờ vậy có thể phòng ngừa và chữa trị bệnh tật.
2. Massage vùng rốn hàng ngày để khỏe mạnh, sống lâu:
Trong dân gian lưu truyền một phương pháp cứu thần khuyết rất độc đáo có tác dụng giúp con người trường thọ. Phương pháp đó như sau:
Lấy sinh ngũ linh chi 24g, thanh diêm 15g, nhũ hương 3g, dạ minh sa đã sao qua 6g, can thông đầu 6g, một ít xạ hương, tất cả đem tán thành bột thật mịn.
Khi cứu, lấy vài thìa bột mì hòa với nước rồi nặn thành cái vành tròn úp ngay ngắn lên lỗ rốn. Lấy 6g bột thuốc đổ vào rồi dùng một miếng vỏ cây hòe mà đốt bởi 1 nén hương.
Bao nhiêu tuổi làm bấy nhiêu lần, mỗi tháng cứu 1 lần, cứu vào giờ Ngọ là tốt nhất.
Việc sử dụng phương pháp cứu huyệt, tức là dùng sức nóng tác động lên huyệt vị cần phải có sự hướng dẫn của thầy thuốc, rất khó để tự áp dụng.
Tuy nhiên, ngày nay chúng ta hoàn toàn có thể áp dụng biện pháp massage nhẹ vùng rốn cũng rất tốt cho sức khỏe.
Cách massage như sau:
Mỗi tối trước khi đi ngủ, nằm ngửa, 2 chân chổng lên. Xoa 2 lòng bàn tay vào nhau cho ấm.
Đầu tiên, dùng tay phải ấn nhẹ vào vùng rốn, tay trái đặt trên tay phải. Sau đó nhẹ nhàng ấn theo chiều kim đồng hồ 20 - 30 lần, cuối cùng đổi tay trái xuống dưới rồi nhẹ nhàng ấn ngược chiều kim đồng hồ 20 - 30 lần.
Thường xuyên massage rốn có công dụng kiện não, hỗ trợ tiêu hóa, an thần, lợi đại tiểu tiện, tăng cường quá trình trao đổi chất của gan và thận, giúp khí huyết lưu thông, tăng cường khả năng chống lại bệnh tật của cơ thể.
1. Vị trí của rốn trong cơ thể:
Đông y quan niệm cơ thể người là một chỉnh thể. Lục phủ ngũ tạng ở bên trong và tứ chi bách hài, bỉ mao tẩu lý ở bên ngoài được nối liền với nhau bởi hệ thống các đường Kinh lạc, tạo thành một chỉnh thể hữu cơ thống nhất.
Trong chỉnh thể đó, rốn có vị trí tương ứng với huyệt Thần khuyết - một vị tri huyệt rất đặc biệt, là cầu nối quan trọng trong hệ thống các đường Kinh Lạc. Huyệt Thần khuyết có quan hệ mật thiết với lục phủ ngũ tạng, 12 kinh mạch và kỳ kinh bát mạch.
Như thế có thể thấy, rốn có một vị trí rất quan trọng. Khi tác động vào rốn là có thể kích phát kinh khí, sơ thông kinh lạc, cân bằng âm dương và điều tiết công năng của lục phủ ngũ tạng, nhờ vậy có thể phòng ngừa và chữa trị bệnh tật.
2. Massage vùng rốn hàng ngày để khỏe mạnh, sống lâu:
Trong dân gian lưu truyền một phương pháp cứu thần khuyết rất độc đáo có tác dụng giúp con người trường thọ. Phương pháp đó như sau:
Lấy sinh ngũ linh chi 24g, thanh diêm 15g, nhũ hương 3g, dạ minh sa đã sao qua 6g, can thông đầu 6g, một ít xạ hương, tất cả đem tán thành bột thật mịn.
Khi cứu, lấy vài thìa bột mì hòa với nước rồi nặn thành cái vành tròn úp ngay ngắn lên lỗ rốn. Lấy 6g bột thuốc đổ vào rồi dùng một miếng vỏ cây hòe mà đốt bởi 1 nén hương.
Bao nhiêu tuổi làm bấy nhiêu lần, mỗi tháng cứu 1 lần, cứu vào giờ Ngọ là tốt nhất.
Việc sử dụng phương pháp cứu huyệt, tức là dùng sức nóng tác động lên huyệt vị cần phải có sự hướng dẫn của thầy thuốc, rất khó để tự áp dụng.
Tuy nhiên, ngày nay chúng ta hoàn toàn có thể áp dụng biện pháp massage nhẹ vùng rốn cũng rất tốt cho sức khỏe.
Cách massage như sau:
Mỗi tối trước khi đi ngủ, nằm ngửa, 2 chân chổng lên. Xoa 2 lòng bàn tay vào nhau cho ấm.
Đầu tiên, dùng tay phải ấn nhẹ vào vùng rốn, tay trái đặt trên tay phải. Sau đó nhẹ nhàng ấn theo chiều kim đồng hồ 20 - 30 lần, cuối cùng đổi tay trái xuống dưới rồi nhẹ nhàng ấn ngược chiều kim đồng hồ 20 - 30 lần.
Thường xuyên massage rốn có công dụng kiện não, hỗ trợ tiêu hóa, an thần, lợi đại tiểu tiện, tăng cường quá trình trao đổi chất của gan và thận, giúp khí huyết lưu thông, tăng cường khả năng chống lại bệnh tật của cơ thể.
NewVnNews
NewVnNews - Nguyên nhân gây hăm tã thường gặp nhất ở trẻ nhỏ là do sự kích thích gây tổn thương da. Da bị ẩm ướt và bị cọ sát liên tục với tã có thể bị tổn thương. Vi trùng, nấm, các loại xà bông giặt, nước tiểu và phân càng làm tệ hơn tình trạng này
Những nhân tố làm hăm tã tệ hơn là:
• Phân lỏng nước (khi bé bị tiêu chảy )
• Không thay tả đủ thường xuyên
• Cho trẻ mặc quần nilon.
Đa số trẻ hết bị hăm tả khi bắt đầu tập ngồi bô
Dấu hiệu và triệu chứng của hăm tã:
• Da vùng tã thường nhìn đỏ, và có thể có những hạt đỏ đi kèm, đặc biệt ở vùng biên của sẩn
• Có thể bị đau hoặc ngứa khi lau vùng tã hăm
• Trẻ có thể bị khó chịu, quấy khóc
Chăm sóc tại nhà
• Tốt nhất là nên dùng tả dùng một lần loại tốt cho trẻ. Tả dùng một lần hút ẩm nhanh, giữ cho da được khô. Tã vải tốt cho môi trường, nhưng lại không hút ẩm tốt bằng.
• Nên thay tả thường xuyên (khoảng 5-7 lần một ngày ở trẻ dưới 12 tháng tuổi ), để giảm thời gian da trẻ phải tiếp xúc với nước tiểu và phân.
• Mỗi lần thay tả, nên lau vùng mông trẻ nhẹ nhàng bằng khăn bông thấm nước ấm, hoặc các loại khăn lau loại “chux”. Các loại khăn ướt mua tại siêu thị có thể gây kích thích da và không nên dùng.
• Kem chống hăm nên được thoa ở mỗi lần thay tả. Việc bôi kem này sẽ bảo vệ da khỏi bị ẩm và tránh cho da khỏi tiếp xúc với các chất làm tổn thương da. Kem kẽm là tốt nhất, hoặc các loại kem nến trắng mềm cũng tốt. Nếu kem bạn dùng rất dễ lau sạch, nên thay bằng một loại kem khác, bởi chúng ta cần tạo một lớp chắn tốt cho da bé.
• Cố gắng cho trẻ có thời gian không dùng tả càng nhiều càng tốt
• Không nên dùng các loại phấn trẻ em cho hăm tã
Có nhiểu loại sẩn da khác nhau có thể hiện diện ở vùng tã và có thể không gây ra do tã. Một số tình trạng, như viêm da dị ứng hoặc nhiễm trùng da có thể xảy ra ở vùng cơ thể bất kỳ. Những sẩn này sẽ không cái thiện khi điều trị hăm tã. Nên cho trẻ đi khám bác sĩ nếu vùng sẩn không cải thiện
Điều trị
• Hăm tã kéo dài,không đáp ứng với các loại kem trị hăm tã, có thể phải cần điều trị bằng những loại kem thuốc đặc hiệu. Nên cho trẻ đi khám bác sĩ để có quyết định điều trị đúng.
• Không nên dùng các dung dịch sát khuẩn cho hăm tã
• Nên cho trẻ đi tác khám nếu sẫn không cải thiện trong 1-2 tuần.
Những thông tin cần ghi nhớ
• Hăm tả làm cho da trẻ đỏ và đau. Bé có thể khó chịu và quấy khóc.
• Phòng ngừa hăm tả là việc quan trọng nhất. Nên giữ da trẻ sạch và khô bằng cách thay tã thường xuyên.
• Dùng kem phủ để tránh nước tiểu và phân tiếp xúc với da
• Tả mặc một lần loại tốt là tốt nhất. Nên cho trẻ có thời gian không mặc tã để giúp giảm hăm tả.
Bs. Huyên Thảo
Theo: Parent’s Information – Nappy Rash - Royal Children’s Hospital, Melbourne, Australia
Những nhân tố làm hăm tã tệ hơn là:
• Phân lỏng nước (khi bé bị tiêu chảy )
• Không thay tả đủ thường xuyên
• Cho trẻ mặc quần nilon.
Đa số trẻ hết bị hăm tả khi bắt đầu tập ngồi bô
Dấu hiệu và triệu chứng của hăm tã:
• Da vùng tã thường nhìn đỏ, và có thể có những hạt đỏ đi kèm, đặc biệt ở vùng biên của sẩn
• Có thể bị đau hoặc ngứa khi lau vùng tã hăm
• Trẻ có thể bị khó chịu, quấy khóc
Chăm sóc tại nhà
• Tốt nhất là nên dùng tả dùng một lần loại tốt cho trẻ. Tả dùng một lần hút ẩm nhanh, giữ cho da được khô. Tã vải tốt cho môi trường, nhưng lại không hút ẩm tốt bằng.
• Nên thay tả thường xuyên (khoảng 5-7 lần một ngày ở trẻ dưới 12 tháng tuổi ), để giảm thời gian da trẻ phải tiếp xúc với nước tiểu và phân.
• Mỗi lần thay tả, nên lau vùng mông trẻ nhẹ nhàng bằng khăn bông thấm nước ấm, hoặc các loại khăn lau loại “chux”. Các loại khăn ướt mua tại siêu thị có thể gây kích thích da và không nên dùng.
• Kem chống hăm nên được thoa ở mỗi lần thay tả. Việc bôi kem này sẽ bảo vệ da khỏi bị ẩm và tránh cho da khỏi tiếp xúc với các chất làm tổn thương da. Kem kẽm là tốt nhất, hoặc các loại kem nến trắng mềm cũng tốt. Nếu kem bạn dùng rất dễ lau sạch, nên thay bằng một loại kem khác, bởi chúng ta cần tạo một lớp chắn tốt cho da bé.
• Cố gắng cho trẻ có thời gian không dùng tả càng nhiều càng tốt
• Không nên dùng các loại phấn trẻ em cho hăm tã
Có nhiểu loại sẩn da khác nhau có thể hiện diện ở vùng tã và có thể không gây ra do tã. Một số tình trạng, như viêm da dị ứng hoặc nhiễm trùng da có thể xảy ra ở vùng cơ thể bất kỳ. Những sẩn này sẽ không cái thiện khi điều trị hăm tã. Nên cho trẻ đi khám bác sĩ nếu vùng sẩn không cải thiện
Điều trị
• Hăm tã kéo dài,không đáp ứng với các loại kem trị hăm tã, có thể phải cần điều trị bằng những loại kem thuốc đặc hiệu. Nên cho trẻ đi khám bác sĩ để có quyết định điều trị đúng.
• Không nên dùng các dung dịch sát khuẩn cho hăm tã
• Nên cho trẻ đi tác khám nếu sẫn không cải thiện trong 1-2 tuần.
Những thông tin cần ghi nhớ
• Hăm tả làm cho da trẻ đỏ và đau. Bé có thể khó chịu và quấy khóc.
• Phòng ngừa hăm tả là việc quan trọng nhất. Nên giữ da trẻ sạch và khô bằng cách thay tã thường xuyên.
• Dùng kem phủ để tránh nước tiểu và phân tiếp xúc với da
• Tả mặc một lần loại tốt là tốt nhất. Nên cho trẻ có thời gian không mặc tã để giúp giảm hăm tả.
Bs. Huyên Thảo
Theo: Parent’s Information – Nappy Rash - Royal Children’s Hospital, Melbourne, Australia
NewVnNews
NewVnNews - Sốt cao co giật là một tình trạng co giật gây ra do thay đổi đột ngột thân nhiệt của trẻ, và thường xảy ra khi trẻ sốt cao trên 38 độ C. Đây là một chẩn đoán loại trừ của các y bác sĩ, khi không tìm thấy những bệnh nguy hiểm khác vừa gây sốt, vừa gây co giật cho trẻ.
Sốt cao co giật có phổ biến không?
• 1 trong 30-40 trẻ sẽ bị sốt cao co giật ít nhất 1 lần, thường xảy ra trong khoảng tuổi từ 6 tháng đến 6 tuổi
Sốt cao co giật có nguy hiểm không?
• Câu trả lời là không.
• Sốt cao co giật, mặc dù biểu hiện có thể làm chúng ta rất lo lắng, nhưng thực sự là một tình trạng rất lành tính. Đa số các trẻ chỉ bị sốt cao co giật một lần trong đời. Một số trẻ có thể bị nhiều hơn 1 lần sốt cao co giật. Tuy nhiên, sốt cao co giật không làm tăng nguy cơ trẻ bị động kinh về sau, cũng không ảnh hưởng đến trí thông minh của trẻ khi trẻ trưởng thành.
Triệu chứng và dấu hiệu:
Trong đợt sốt cao co giật:
• Trẻ thường sẽ bất tỉnh
• Cơ gồng cứng hoặc giật
• Trẻ có thể đỏ mặc hoặc xanh mặt
• Cơn co giật có thể diễn ra trong vài phút, đa phần dưới 15 phút
• Khi hết co giật, trẻ sẽ tỉnh lại, nhưng có thể sẽ buồn ngủ hoặc hơi quấy khóc ban đầu.
Cần làm gì trong cơn co giật:
• Nên nhớ: bạn không thể làm gì để cắt cơn co giật của trẻ
• Điều quan trọng nhất là giữ bình tĩnh
• Đặt trẻ trên nền mềm, nằm ngửa hoặc nằm nghiêng bên
• Đừng giữ chặt trẻ
• Không được đưa bất kỳ vật gì hoặc chất lỏng/thuốc gì vào miệng trẻ, kể cả ngón tay của bạn – Trẻ sẽ không nghẹt hoặc nuốt lưỡi trong cơn co giật
• Cố gắng ghi nhận những gì xảy ra, để có thể mô tả cho bác sĩ sau này
• Tính thời gian co giật của trẻ
Nên cho trẻ vào cấp cứu nếu:
• Trẻ co giật hơn 5 phút
• Trẻ không thức dậy khi xong cơn co giật, hoặc nhìn rất mệt khi xong cơn co giật
Nếu cơn co giật ngắn hơn 5 phút: nên khám bác sĩ càng sớm càng tốt.
Điều trị sốt:
• Vì sốt là phản ứng tự nhiên của cơ thể với nhiễm trùng, không phải lúc nào cũng cần phải giảm sốt.
• GIẢM SỐT ( BẰNG PARACETAMOL HOẶC IBUPROFEN) KHÔNG NGỪA ĐƯỢC CƠN SỐT CAO CO GIẬT!!!!!
• Chỉ dùng hạ sốt với mục tiêu căn bản là giảm đau / làm cho trẻ dễ chịu hơn, như ở những trường hợp sốt khác (xem bài SỐT)
Theo dõi sau sốt cao co giật:
• Hầu hết trẻ có sốt cao co giật không có những vấn đề sức khỏe mãn tính đi kèm. Thường các trẻ này là những trẻ hoàn toàn khỏe mạnh và ngưng bị sốt cao co giật khi được 6 tuổi.
• Nếu con bạn có những cơn co giật kéo dài, tái đi tái lại, nên khám bác sĩ chuyên khoa.
Những điểm chính cần ghi nhớ:
• 1 trong 30-40 trẻ sẽ có sốt cao co giật , thường vào khoảng 6 tháng đến 6 tuổi
• KHÔNG CÓ PHƯƠNG PHÁP NÀO PHÒNG NGỪA CƠN SỐT CAO CO GIẬT – nên giữ bình tĩnh, không hoảng sợ
• Sốt cao co giật không gây tổn thương não. Ngay cả những cơn co giật kéo dài 1 giờ hơn cũng gần như không bao giờ gây hại cho trẻ.
• Nếu cơn co giật dài hơn 5 phút, nên cho trẻ đi cấp cứu
• Nếu bạn lo lắng về điều gì khác, nên đi khám bác sĩ.
Bs. Huyên Thảo
Nguồn thông tin:
1. Sốt cao co giật – thông tin cho gia đình – bệnh viện Royal Children’s Hospital, Melbourne
2. Antipyretics do not prevent febrile convulsions – AAP Grand Rounds Vol.10, No.4, 2003
3. Do antipyretics prevent the recurrence of febrile seizures in children? A systematic review of randomized controlled trials and meta-analysis ; Eu J Paediatr Neurol; 17(6):585-588; 2013
4. Prophylactic drug management for febrile seizures in children; Cochrane Database systematic reviews; 4: CD003031; 2012.
Sốt cao co giật có phổ biến không?
• 1 trong 30-40 trẻ sẽ bị sốt cao co giật ít nhất 1 lần, thường xảy ra trong khoảng tuổi từ 6 tháng đến 6 tuổi
Sốt cao co giật có nguy hiểm không?
• Câu trả lời là không.
• Sốt cao co giật, mặc dù biểu hiện có thể làm chúng ta rất lo lắng, nhưng thực sự là một tình trạng rất lành tính. Đa số các trẻ chỉ bị sốt cao co giật một lần trong đời. Một số trẻ có thể bị nhiều hơn 1 lần sốt cao co giật. Tuy nhiên, sốt cao co giật không làm tăng nguy cơ trẻ bị động kinh về sau, cũng không ảnh hưởng đến trí thông minh của trẻ khi trẻ trưởng thành.
Triệu chứng và dấu hiệu:
Trong đợt sốt cao co giật:
• Trẻ thường sẽ bất tỉnh
• Cơ gồng cứng hoặc giật
• Trẻ có thể đỏ mặc hoặc xanh mặt
• Cơn co giật có thể diễn ra trong vài phút, đa phần dưới 15 phút
• Khi hết co giật, trẻ sẽ tỉnh lại, nhưng có thể sẽ buồn ngủ hoặc hơi quấy khóc ban đầu.
Cần làm gì trong cơn co giật:
• Nên nhớ: bạn không thể làm gì để cắt cơn co giật của trẻ
• Điều quan trọng nhất là giữ bình tĩnh
• Đặt trẻ trên nền mềm, nằm ngửa hoặc nằm nghiêng bên
• Đừng giữ chặt trẻ
• Không được đưa bất kỳ vật gì hoặc chất lỏng/thuốc gì vào miệng trẻ, kể cả ngón tay của bạn – Trẻ sẽ không nghẹt hoặc nuốt lưỡi trong cơn co giật
• Cố gắng ghi nhận những gì xảy ra, để có thể mô tả cho bác sĩ sau này
• Tính thời gian co giật của trẻ
Nên cho trẻ vào cấp cứu nếu:
• Trẻ co giật hơn 5 phút
• Trẻ không thức dậy khi xong cơn co giật, hoặc nhìn rất mệt khi xong cơn co giật
Nếu cơn co giật ngắn hơn 5 phút: nên khám bác sĩ càng sớm càng tốt.
Điều trị sốt:
• Vì sốt là phản ứng tự nhiên của cơ thể với nhiễm trùng, không phải lúc nào cũng cần phải giảm sốt.
• GIẢM SỐT ( BẰNG PARACETAMOL HOẶC IBUPROFEN) KHÔNG NGỪA ĐƯỢC CƠN SỐT CAO CO GIẬT!!!!!
• Chỉ dùng hạ sốt với mục tiêu căn bản là giảm đau / làm cho trẻ dễ chịu hơn, như ở những trường hợp sốt khác (xem bài SỐT)
Theo dõi sau sốt cao co giật:
• Hầu hết trẻ có sốt cao co giật không có những vấn đề sức khỏe mãn tính đi kèm. Thường các trẻ này là những trẻ hoàn toàn khỏe mạnh và ngưng bị sốt cao co giật khi được 6 tuổi.
• Nếu con bạn có những cơn co giật kéo dài, tái đi tái lại, nên khám bác sĩ chuyên khoa.
Những điểm chính cần ghi nhớ:
• 1 trong 30-40 trẻ sẽ có sốt cao co giật , thường vào khoảng 6 tháng đến 6 tuổi
• KHÔNG CÓ PHƯƠNG PHÁP NÀO PHÒNG NGỪA CƠN SỐT CAO CO GIẬT – nên giữ bình tĩnh, không hoảng sợ
• Sốt cao co giật không gây tổn thương não. Ngay cả những cơn co giật kéo dài 1 giờ hơn cũng gần như không bao giờ gây hại cho trẻ.
• Nếu cơn co giật dài hơn 5 phút, nên cho trẻ đi cấp cứu
• Nếu bạn lo lắng về điều gì khác, nên đi khám bác sĩ.
Bs. Huyên Thảo
Nguồn thông tin:
1. Sốt cao co giật – thông tin cho gia đình – bệnh viện Royal Children’s Hospital, Melbourne
2. Antipyretics do not prevent febrile convulsions – AAP Grand Rounds Vol.10, No.4, 2003
3. Do antipyretics prevent the recurrence of febrile seizures in children? A systematic review of randomized controlled trials and meta-analysis ; Eu J Paediatr Neurol; 17(6):585-588; 2013
4. Prophylactic drug management for febrile seizures in children; Cochrane Database systematic reviews; 4: CD003031; 2012.
NewVnNews
NewVnNews - Bệnh tay chân miệng là một bệnh nhiễm virus khá phổ biến ở trẻ em, đặc biệt là trẻ nhỏ. Bệnh được đặc trưng, như tên gọi, bởi các sẩn da dạng bóng nước ở tay, chân, mông, gối, khủy tay, và những vết loét ở miệng.
Tại Việt Nam, bệnh xảy ra quanh năm.
Bệnh tay chân miệng ở người hoàn toàn khác với bệnh lở mồm long móng ở súc vật như heo, trâu bò, cừu. Hai bệnh này không liên quan gì đến nhau, và gây ra bởi hai nhóm virus hoàn toàn khác nhau.
Bệnh tay chân miệng gây ra bởi một nhóm virus có tên là enterovirus, nhóm này có nhiều chủng nhỏ khác nhau. Coxsakievirus A16 là virus gây bệnh phổ biến nhất, bệnh với virus này thường nhẹ, tự hết và ít biến chứng. Enterovirus, đặc biệt là Enterovirus 71, là loại thường có liên quan đến những biến chứng nguy hiểm, và tử vong, tuy nhiên, số ca do virus này gây ra không nhiều.
Bệnh tay chân miệng có nghiêm trọng không?
• Đa số các trường hợp bị tay chân miệng phục hồi hoàn toàn, không biến chứng trong 7-10 ngày.
• Mất nước là biến chứng phổ biến nhất của tay chân miệng do Coxsackievirus, do trẻ bị đau miệng và không chịu ăn uống gì.
• Trong một số ít trường hợp, đặc biệt các ca do Enterovirus 71, bệnh có thể có biến chứng viêm màng não, viêm não, và có thể trở nên nghiêm trọng.
Diễn tiến bệnh, dấu hiệu và triệu chứng:
• Bệnh tay chân miệng rất dễ lây, vì bệnh lây từ người này sang người khác qua tiếp xúc trực tiếp với dịch mũi, miệng, nước miếng, dịch từ các bong nước, và phân của người bệnh. Người bị bệnh thường dễ lây cho người khác nhất trong tuần đầu tiên của bệnh. Bệnh tay chân miệng không truyền qua người từ nguồn súc vật hoặc thú nuôi trong nhà.
• Bệnh tay chân miệng đa số xảy ra ở trẻ dưới 10 tuổi, phổ biến nhất ở trẻ dưới 5 tuổi. Trẻ càng nhỏ càng dễ có triệu chứng nặng hơn. Đa số người lớn đã có miễn dịch đầy đủ nên ít bị bệnh hơn, nhưng cũng có những ca tay chân miệng được báo cáo ở trẻ vị thành niên và người trưởng thành.
• Thông thường, thời gian ủ bệnh là 3-7 ngày.
• Khi phát bệnh, sốt là triệu chứng thường gặp đầu tiên, và trẻ thường chỉ sốt trong 1-2 ngày đầu. Khi đó, trẻ cũng có những dấu hiệu rất chung chung, không đặc hiệu, như kém ăn, mệt mỏi, và thường than đau họng (nhưng chưa có loét).
• 1-2 ngày sau khi bắt đầu sốt, trẻ bắt đầu có những vết chấm đỏ trong miệng, dần phát triển thành bong nước và vỡ ra thành vết loét. Những vết loét này thường xuất hiện ở lưỡi, lợi, và vòm hầu, họng, mặt trong má.
• Sẩn da cũng xuất hiện trong thời gian này, với những chấm đỏ, phẳng hoặc gồ lên, và nhiều khi phát triển thành bóng nước, thường phân bố ở lòng bàn tay, lòng bàn chân, mông, vùng khủy tay và đầu gối.
• Một số ít trường hợp, khi trẻ bị biến chứng nặng, sẽ có những dấu hiệu thần kinh và hệ thống. Đây là những trẻ cần được theo dõi sát và được quyết định điều trị chuyên biệt kịp thời.
Những dấu hiệu được xem là quan trọng mà ba mẹ cần nhận biết để cho trẻ đến tái khám ngay, bao gồm:
• Sốt từ 39 độ C trở lên, hoặc trên 2 ngày.
• Ói nhiều
• Đừ nhiều
• Thở nhanh / thở khó
• Quấy khóc, bứt rứt
• Giật mình hốt hoảng nhiều lần
• Run giật cơ
• Yếu chi
• Mất thăng bằng khi đi đứng
• Da nổi bông
• Nếu ba mẹ có bất kỳ điều gì lo lắng
Điều trị bệnh tay chân miệng như thế nào?
Như đã nói ở trên, đây là một bệnh do virus, và thường tự hết, nên đa số các trẻ chỉ cần điều trị hỗ trợ trong thời gian bệnh để chờ tự hết. Trẻ bị viêm loét miệng lưỡi rất đau, vì vậy trẻ rất quấy, than khóc, và không chịu ăn uống gì, do đó dễ bị mất nước, hạ đường huyết. Những trẻ này cần được cho giảm đau, và khuyến khích ăn uống chậm, ít lại, nhiều lần hơn, với những thức ăn lỏng, mềm, dễ nuốt, và cho uống nhiều nước. Nhiều trẻ sẽ chịu đồ lạnh hơn, vì có thể làm giảm đau ở vết loét cho trẻ. Không cần tránh các thức ăn, thức uống lạnh, như nước đá, kem, yaourt…, mà ngược lại, có thể thử cho trẻ những thức này, để xem trẻ có dễ chịu hơn phần nào hay không.
Đối với những trường hợp nghi ngờ bị biến chứng thần kinh, hoặc có những dấu hiệu, tiêu chuẩn nghi ngờ khả năng/nguy cơ bị biến chứng thần kinh cao, các bác sĩ sẽ quyết định cho trẻ nhập viện để bắt đầu điều trị hỗ trợ chuyên biệt, hoặc để có thể theo dõi sát các dấu hiệu nặng nhằm can thiệp kịp thời. Vì khi trẻ bị biến chứng thần kinh, bệnh có thể diễn tiến rất nhanh và rất trầm trọng, mà nếu phát hiện trễ, qua “thời điểm vàng”, các can thiệp chuyên sâu sẽ không được hữu hiệu bằng, và vì vậy, hệ quả bệnh sẽ không được tối ưu.
Khi bị bệnh rồi, có bị bệnh lại nữa được không?
Khi một người bị bệnh tay chân miệng, sau đợt bệnh này, chỉ phát triển miễn dịch chống lại Virus gây đợt bệnh này mà thôi. Trong khi đó, nhóm enterovirus bao gồm rất nhiều loại virus khác nhau, vì vậy, người đó vẫn có thể bị lại bệnh tay chân miệng, nhưng gây ra bởi loại virus khác so với virus ban đầu.
Có thể phòng ngừa bệnh tay chân miệng không?
HIện nay không có thuốc giết virus đặc hiệu, cũng như không có vaccine nào để phòng ngừa bệnh. Tuy nhiên, nguy cơ bị nhiễm bệnh có thể được giảm đi nếu chúng ta thực hiện những phương pháp vệ sinh tốt, như:
• Thường xuyên rửa tay bằng xà phòng, đặc biệt là sau khi chạm vào những vết loét, bóng nước của người bị bệnh, trước khi sửa soạn thức ăn, trước khi ăn, trước khi cho trẻ ăn, và sau khi sử dụng toilet và sau khi thay tả cho trẻ.
• Lau sạch những bề mặt và những đồ chơi có thể “bị nhiễm”, bằng xà phòng và nước trước, sau đó tiệt trùng bằng nước tẩy rửa chứa chlor (chlorine) pha loãng.
• Tránh tiếp xúc gần, như ôm hôn, dùng chung muỗng nĩa, chén, với người bệnh.
• Không cho trẻ đi học, hoặc đến các nơi vui chơi, tập trung của các trẻ nhỏ (công viên vui chơi, nhà banh, hồ bơi…) cho đến khi trẻ hết bệnh hoàn toàn (thường sau 7-10 ngày sau khi khởi bệnh).
• Dạy trẻ che miệng, mũi khi ho hoặc hắt xì
• Bỏ các tả dơ, giấy chùi, khăn ướt khi chăm sóc trẻ bệnh vào bịch rác và đậy lại kỹ càng.
• Giữ sạch nhà cửa, trường học, hoặc trường mẫu giáo.
Những thông tin cần ghi nhớ:
• Bệnh tay chân miệng thường xảy ra ở trẻ em, đặc biệt là trẻ nhỏ. Trẻ càng nhỏ càng dễ bị triệu chứng nặng hơn.
• Đa số các trường hợp tự hết trong khoảng 7 ngày, và chỉ cần điều trị hỗ trợ. Chú ý khuyến khích cho trẻ ăn uống để tránh mất nước.
• Một số ít trường hợp có nguy cơ biến chứng thần kinh sẽ được tư vấn nhập viên để theo dõi và can thiệp điều trị kịp thời.
• Trẻ bệnh dễ lây bệnh cho trẻ khác, nhất là trong 7 ngày từ khi phát bệnh, vì vậy nên cách ly trẻ khỏi trường và khu vui chơi.
• Nên theo dõi sát trẻ khi chăm sóc tại nhà, để có thể nhận biết các dấu hiệu nguy hiểm và cho trẻ tái khám đúng lúc.
• Rửa tay và giữ vệ sinh tốt, hạn chế tiếp xúc với dịch cơ thể của người bệnh, là biện pháp phòng ngừa hữu hiệu nhất.
Bs. Huyên Thảo.
Nguồn tham khảo:
• World Health Organization: Hand, Foot and Mouth Disease Information Sheet
• World Health Organization: A guide to clinical management and public health response for Hand, Foot and Mouth disease.
Tại Việt Nam, bệnh xảy ra quanh năm.
Bệnh tay chân miệng ở người hoàn toàn khác với bệnh lở mồm long móng ở súc vật như heo, trâu bò, cừu. Hai bệnh này không liên quan gì đến nhau, và gây ra bởi hai nhóm virus hoàn toàn khác nhau.
Bệnh tay chân miệng gây ra bởi một nhóm virus có tên là enterovirus, nhóm này có nhiều chủng nhỏ khác nhau. Coxsakievirus A16 là virus gây bệnh phổ biến nhất, bệnh với virus này thường nhẹ, tự hết và ít biến chứng. Enterovirus, đặc biệt là Enterovirus 71, là loại thường có liên quan đến những biến chứng nguy hiểm, và tử vong, tuy nhiên, số ca do virus này gây ra không nhiều.
Bệnh tay chân miệng có nghiêm trọng không?
• Đa số các trường hợp bị tay chân miệng phục hồi hoàn toàn, không biến chứng trong 7-10 ngày.
• Mất nước là biến chứng phổ biến nhất của tay chân miệng do Coxsackievirus, do trẻ bị đau miệng và không chịu ăn uống gì.
• Trong một số ít trường hợp, đặc biệt các ca do Enterovirus 71, bệnh có thể có biến chứng viêm màng não, viêm não, và có thể trở nên nghiêm trọng.
Diễn tiến bệnh, dấu hiệu và triệu chứng:
• Bệnh tay chân miệng rất dễ lây, vì bệnh lây từ người này sang người khác qua tiếp xúc trực tiếp với dịch mũi, miệng, nước miếng, dịch từ các bong nước, và phân của người bệnh. Người bị bệnh thường dễ lây cho người khác nhất trong tuần đầu tiên của bệnh. Bệnh tay chân miệng không truyền qua người từ nguồn súc vật hoặc thú nuôi trong nhà.
• Bệnh tay chân miệng đa số xảy ra ở trẻ dưới 10 tuổi, phổ biến nhất ở trẻ dưới 5 tuổi. Trẻ càng nhỏ càng dễ có triệu chứng nặng hơn. Đa số người lớn đã có miễn dịch đầy đủ nên ít bị bệnh hơn, nhưng cũng có những ca tay chân miệng được báo cáo ở trẻ vị thành niên và người trưởng thành.
• Thông thường, thời gian ủ bệnh là 3-7 ngày.
• Khi phát bệnh, sốt là triệu chứng thường gặp đầu tiên, và trẻ thường chỉ sốt trong 1-2 ngày đầu. Khi đó, trẻ cũng có những dấu hiệu rất chung chung, không đặc hiệu, như kém ăn, mệt mỏi, và thường than đau họng (nhưng chưa có loét).
• 1-2 ngày sau khi bắt đầu sốt, trẻ bắt đầu có những vết chấm đỏ trong miệng, dần phát triển thành bong nước và vỡ ra thành vết loét. Những vết loét này thường xuất hiện ở lưỡi, lợi, và vòm hầu, họng, mặt trong má.
• Sẩn da cũng xuất hiện trong thời gian này, với những chấm đỏ, phẳng hoặc gồ lên, và nhiều khi phát triển thành bóng nước, thường phân bố ở lòng bàn tay, lòng bàn chân, mông, vùng khủy tay và đầu gối.
• Một số ít trường hợp, khi trẻ bị biến chứng nặng, sẽ có những dấu hiệu thần kinh và hệ thống. Đây là những trẻ cần được theo dõi sát và được quyết định điều trị chuyên biệt kịp thời.
Những dấu hiệu được xem là quan trọng mà ba mẹ cần nhận biết để cho trẻ đến tái khám ngay, bao gồm:
• Sốt từ 39 độ C trở lên, hoặc trên 2 ngày.
• Ói nhiều
• Đừ nhiều
• Thở nhanh / thở khó
• Quấy khóc, bứt rứt
• Giật mình hốt hoảng nhiều lần
• Run giật cơ
• Yếu chi
• Mất thăng bằng khi đi đứng
• Da nổi bông
• Nếu ba mẹ có bất kỳ điều gì lo lắng
Điều trị bệnh tay chân miệng như thế nào?
Như đã nói ở trên, đây là một bệnh do virus, và thường tự hết, nên đa số các trẻ chỉ cần điều trị hỗ trợ trong thời gian bệnh để chờ tự hết. Trẻ bị viêm loét miệng lưỡi rất đau, vì vậy trẻ rất quấy, than khóc, và không chịu ăn uống gì, do đó dễ bị mất nước, hạ đường huyết. Những trẻ này cần được cho giảm đau, và khuyến khích ăn uống chậm, ít lại, nhiều lần hơn, với những thức ăn lỏng, mềm, dễ nuốt, và cho uống nhiều nước. Nhiều trẻ sẽ chịu đồ lạnh hơn, vì có thể làm giảm đau ở vết loét cho trẻ. Không cần tránh các thức ăn, thức uống lạnh, như nước đá, kem, yaourt…, mà ngược lại, có thể thử cho trẻ những thức này, để xem trẻ có dễ chịu hơn phần nào hay không.
Đối với những trường hợp nghi ngờ bị biến chứng thần kinh, hoặc có những dấu hiệu, tiêu chuẩn nghi ngờ khả năng/nguy cơ bị biến chứng thần kinh cao, các bác sĩ sẽ quyết định cho trẻ nhập viện để bắt đầu điều trị hỗ trợ chuyên biệt, hoặc để có thể theo dõi sát các dấu hiệu nặng nhằm can thiệp kịp thời. Vì khi trẻ bị biến chứng thần kinh, bệnh có thể diễn tiến rất nhanh và rất trầm trọng, mà nếu phát hiện trễ, qua “thời điểm vàng”, các can thiệp chuyên sâu sẽ không được hữu hiệu bằng, và vì vậy, hệ quả bệnh sẽ không được tối ưu.
Khi bị bệnh rồi, có bị bệnh lại nữa được không?
Khi một người bị bệnh tay chân miệng, sau đợt bệnh này, chỉ phát triển miễn dịch chống lại Virus gây đợt bệnh này mà thôi. Trong khi đó, nhóm enterovirus bao gồm rất nhiều loại virus khác nhau, vì vậy, người đó vẫn có thể bị lại bệnh tay chân miệng, nhưng gây ra bởi loại virus khác so với virus ban đầu.
Có thể phòng ngừa bệnh tay chân miệng không?
HIện nay không có thuốc giết virus đặc hiệu, cũng như không có vaccine nào để phòng ngừa bệnh. Tuy nhiên, nguy cơ bị nhiễm bệnh có thể được giảm đi nếu chúng ta thực hiện những phương pháp vệ sinh tốt, như:
• Thường xuyên rửa tay bằng xà phòng, đặc biệt là sau khi chạm vào những vết loét, bóng nước của người bị bệnh, trước khi sửa soạn thức ăn, trước khi ăn, trước khi cho trẻ ăn, và sau khi sử dụng toilet và sau khi thay tả cho trẻ.
• Lau sạch những bề mặt và những đồ chơi có thể “bị nhiễm”, bằng xà phòng và nước trước, sau đó tiệt trùng bằng nước tẩy rửa chứa chlor (chlorine) pha loãng.
• Tránh tiếp xúc gần, như ôm hôn, dùng chung muỗng nĩa, chén, với người bệnh.
• Không cho trẻ đi học, hoặc đến các nơi vui chơi, tập trung của các trẻ nhỏ (công viên vui chơi, nhà banh, hồ bơi…) cho đến khi trẻ hết bệnh hoàn toàn (thường sau 7-10 ngày sau khi khởi bệnh).
• Dạy trẻ che miệng, mũi khi ho hoặc hắt xì
• Bỏ các tả dơ, giấy chùi, khăn ướt khi chăm sóc trẻ bệnh vào bịch rác và đậy lại kỹ càng.
• Giữ sạch nhà cửa, trường học, hoặc trường mẫu giáo.
Những thông tin cần ghi nhớ:
• Bệnh tay chân miệng thường xảy ra ở trẻ em, đặc biệt là trẻ nhỏ. Trẻ càng nhỏ càng dễ bị triệu chứng nặng hơn.
• Đa số các trường hợp tự hết trong khoảng 7 ngày, và chỉ cần điều trị hỗ trợ. Chú ý khuyến khích cho trẻ ăn uống để tránh mất nước.
• Một số ít trường hợp có nguy cơ biến chứng thần kinh sẽ được tư vấn nhập viên để theo dõi và can thiệp điều trị kịp thời.
• Trẻ bệnh dễ lây bệnh cho trẻ khác, nhất là trong 7 ngày từ khi phát bệnh, vì vậy nên cách ly trẻ khỏi trường và khu vui chơi.
• Nên theo dõi sát trẻ khi chăm sóc tại nhà, để có thể nhận biết các dấu hiệu nguy hiểm và cho trẻ tái khám đúng lúc.
• Rửa tay và giữ vệ sinh tốt, hạn chế tiếp xúc với dịch cơ thể của người bệnh, là biện pháp phòng ngừa hữu hiệu nhất.
Bs. Huyên Thảo.
Nguồn tham khảo:
• World Health Organization: Hand, Foot and Mouth Disease Information Sheet
• World Health Organization: A guide to clinical management and public health response for Hand, Foot and Mouth disease.
NewVnNews
NewVnNews - Tiêu chảy (tên y khoa là gastroenteritis – viêm dạ dày ruột) là một nhiễm trùng đường ruột, đa số là do virus, một số trường hợp do vi khuẩn gây ra. Đây là một tình trạng khá phổ biến ở trẻ em, gây nhiều lo lắng, và chiếm phần lớn những đợt thăm khám, và nhập viện. Những thực hành của gia đình trong chăm sóc trẻ bệnh hiện vẫn còn nhiều hiểu lầm, hoặc theo kiểu dân gian nên không khoa học, và nên được thay đổi và điều chỉnh.
Trở lại với bệnh tiêu chảy, vì đường tiêu hóa bị bệnh nên ở phần dưới sẽ biểu hiện tiêu lỏng nước nhiều lần, và ở phần trên sẽ biểu hiện bằng ói ọc. Ở hầu hết các trường hợp, triệu chứng ói ọc xảy ra ở hai ngày đầu của bệnh, và đến ngày thứ 3 thì tự hồi phục và hết hẳn. Triệu chứng tiêu chảy thường nặng nhất ở những ngày đầu của bệnh, dây dưa khoảng 5-7 ngày, và đa số ngưng hẳn trong hai tuần. Sốt cũng là một triệu chứng phổ biến thường thấy, và đa phần không kéo dài quá 48 giờ. Một điều cần lưu ý, là đa số các trường hợp này đều không cần dùng thuốc, và bệnh tự phục hồi. Nhiệm vụ của người chăm sóc trẻ là hỗ trợ chăm sóc trẻ đúng cách, để tránh mất nước. Nhiệm vụ của bác sĩ, là thăm khám để loại trừ những bệnh nguy hiểm gây triệu chứng tương tự, và để tư vấn hỗ trợ trẻ và gia đình, theo dõi để có thể phát hiện các dấu hiệu mất nước nặng, nhiễm trùng nặng…đúng lúc để can thiệp hỗ trợ, đặc biệt trong 48 giờ đầu của bệnh.
Vấn đề hỗ trợ bù nước và dinh dưỡng cho trẻ bệnh tiêu chảy là vấn đề tối ưu trong chăm sóc trẻ. Trẻ nhỏ dưới 1 tuổi, đặc biệt dưới 6 tháng, rất dễ bị mất nước, và vì vậy cần phải được đánh giá theo dõi thường xuyên hơn, có khi mỗi 6-12 giờ. Những trẻ bị suy dinh dưỡng, hoặc có những bệnh mãn tính như bệnh thận, tim mạch, cũng cần được đánh giá cẩn thận hơn. Những dấu hiệu bé có thể bị mất nước bao gồm: lừ đừ (rất buồn ngủ và khó đánh thức ở những cữ ăn/bú sữa bình thường), khô môi miệng, không đi tiểu, tay chân lạnh. Nếu trẻ có một trong những dấu hiệu này, trẻ cần được khám bác sĩ ngay lập tức.
Đa số các trẻ tiêu chảy đều có thể được chăm sóc tại nhà. Điều trị chính là cho trẻ uống nước thường xuyên, để bù lại dịch mất đi từ ói và tiêu chảy. Vì đường ruột bị bệnh, chúng ta không thể cho trẻ uống quá nhanh và quá nhiều như bình thường, vì như thế trẻ sẽ ói lại ngay. Khuyến cáo thường dùng là bù dịch chậm, mỗi 15 phúc một lần, bằng cách uống từ từ, đút muỗng, hoặc bơm chậm qua bơm tiêm đường miệng, với mục tiêu cung cấp cho trẻ khoảng 10-20ml/kg/giờ khi trẻ ói nhiều. Dịch bù tốt nhất là Oresol hoặc Hydrolite. Dùng nước trái cây hoặc nước soda là lựa chọn sai, nên tránh, vì có thể tăng nguy cơ mất nước ở trẻ.
Nếu trẻ không đáp ứng, và vẫn ói nhiều, không dung nạp được dịch bù, nên cho trẻ đi khám. Các bác sĩ có thể đánh giá lại cách bù dịch, hướng dẫn làm đúng cách, hoặc nếu trẻ vẫn ói nhiều mặc dù đã làm đúng cách, các bác sĩ có thể quyết định hỗ trợ trẻ bằng thuốc chống ói và đặt sonde dạ dày để bù dịch qua sonde dạ dày cho trẻ. Rất nhiều ba mẹ nôn nóng khi con ói ọc, và đòi hỏi chích vein truyền dịch liền. Thật sự, bằng chứng nghiên cứu cho thấy, việc bù dịch qua sonde dạ dày cho trẻ là an toàn hơn, và hiệu quả hơn, so với bù dịch qua đường truyền tĩnh mạch. Việc chích vein truyền dịch hiện nay là lựa chọn cuối cùng, khi trẻ vẫn không dung nạp đường dịch bù qua sonde dạ dày, hoặc trẻ mất nước quá nặng, không thể đợi để bù qua sonde dạ dày được.
Không ít gia đình ngưng sữa, hoặc các sản phẩm của sữa khi trẻ bị tiêu chảy. Một số gia đình còn ngưng luôn thức ăn thường ngày của trẻ. Thực hành này hoàn toàn sai. Nên nhớ, ruột bệnh của trẻ vẫn cần dinh dưỡng, và trong những trường hợp tiêu chảy cấp dưới 2 tuần, sẽ không có tình trạng không dung nạp sữa. Vì vậy, thực hành này là nguy hiểm, vì có thể gây cho trẻ thiếu dinh dưỡng trong thời kỳ bệnh, nguy cơ hạ đường huyết vì không có năng lượng cung cấp, và làm tình trạng bệnh nặng hơn hoặc dây dưa hơn.
Khuyến cáo hiện nay là nên tiếp tục thức ăn hoặc sữa như bình thường cho trẻ trong thời gian bệnh. Đặc biệt, khi trẻ cần bù dịch, thì khi bù dịch xong, nên sử dụng lại sữa bình thường càng sớm càng tốt. Trẻ nhỏ thường sẽ có nhu cầu uống sau mỗi lần ói, vì vậy nên tiếp tục cho trẻ bú mẹ, hoặc bú bình. Tiếp tục cho trẻ ăn thức ăn dặm bình thường trong thời gian bệnh, và nên cho trẻ ăn bất kỳ thứ gì trẻ thích (ngoại trừ những thức ăn sống, không được nấu chín). Không nên ngưng sữa mẹ/sữa bình/ thức ăn quá 24 giờ. Chỉ cho trẻ uống nước trái cây và các loại nước soda khi tiêu chảy đã hoàn toàn ngưng hẳn.
Một điều cần lưu ý nữa, là bệnh này rất dễ lây, vì vậy người chăm sóc trẻ nên rửa tay bằng xà phòng thường xuyên, và lau tay khô sau rửa, để hạn chế nguy cơ lây lan của bệnh. Nên rửa tay sau mỗi lần thay tã hoặc chăm trẻ đi toilet, và trước khi chuẩn bị thức ăn, hoặc trước khi ăn. Những khăn tắm, lau cho trẻ bệnh nên chỉ được sử dụng cho trẻ. Trẻ khi bị bệnh nên được ở nhà, và không cho đi học hoặc đi mẫu giáo. Chỉ cho trẻ đi học lại sau 48 giờ từ lần tiêu chảy/ói ọc cuối cùng (2 ngày sau khi hết triệu chứng). Không nên cho trẻ đi bơi cho đến 2 tuần sau lần tiêu chảy cuối cùng.
Thông tin cần ghi nhớ:
1. Trẻ nhỏ rất dễ bị mất nước – vì vậy nên cho uống nước bù thường xuyên
2. Trẻ dưới 6 tháng nên được khám bác sĩ ngay khi bệnh, và có thể cần đánh giá thường xuyên mỗi 6-12 giời
3. Trẻ nhỏ thường uống sau mỗi lần trẻ ói. Tiếp tục cho trẻ bú sữa. Không nên ngưng sữa quá 12-24 giờ.
4. Tiếp tục cho trẻ ăn nếu trẻ muốn, không ngưng cho ăn quá 24 giờ
5. Trẻ nhỏ rất dễ lây bệnh, vì vậy, nên rửa tay thường xuyên khi chăm sóc trẻ.
6. Nên cho trẻ tránh các trẻ khác, vì dễ lây bệnh cho các bạn, cho đến khi bệnh ngưng hẳn.
Khi nào bạn nên cho bé đi khám bác sĩ khi bé bị tiêu chảy?
• Nếu bé không uống được, mà vẫn còn ói và tiêu chảy
• Nếu bé bị tiêu chảy nhiều (8 tới 10 lần đi phân lỏng một ngày, hoặc 2-3 lần đi phân nước rất nhiều mỗi ngày), hoặc nếu bé vẫn còn bị tiêu chảy sau 10 ngày
• Nếu bé ói thường xuyên và không thể dung nạp được bất kỳ chất lỏng nào.
• Nếu bạn nghĩ bé bị mất nước: vd: không đi tè, nhợt nhạt, sụt cân nhiều, mắt trũng, tay chân lạnh, hoặc ngủ li bì khó đánh thức
• Nếu bé bị đau bụng nhiều
• Nếu bạn thấy trong phân có máu
• Nếu bé ói ra dịch xanh lá cây
• Hoặc nếu bạn có BẤT KỲ lo lắng nào
Nguồn: Bs. Huyên Thảo.
Gastroenteritis – Kids Health Info and Clinical Practice Guidelines – The Royal Children’s Hospital – Melbourne, Australia.
Trở lại với bệnh tiêu chảy, vì đường tiêu hóa bị bệnh nên ở phần dưới sẽ biểu hiện tiêu lỏng nước nhiều lần, và ở phần trên sẽ biểu hiện bằng ói ọc. Ở hầu hết các trường hợp, triệu chứng ói ọc xảy ra ở hai ngày đầu của bệnh, và đến ngày thứ 3 thì tự hồi phục và hết hẳn. Triệu chứng tiêu chảy thường nặng nhất ở những ngày đầu của bệnh, dây dưa khoảng 5-7 ngày, và đa số ngưng hẳn trong hai tuần. Sốt cũng là một triệu chứng phổ biến thường thấy, và đa phần không kéo dài quá 48 giờ. Một điều cần lưu ý, là đa số các trường hợp này đều không cần dùng thuốc, và bệnh tự phục hồi. Nhiệm vụ của người chăm sóc trẻ là hỗ trợ chăm sóc trẻ đúng cách, để tránh mất nước. Nhiệm vụ của bác sĩ, là thăm khám để loại trừ những bệnh nguy hiểm gây triệu chứng tương tự, và để tư vấn hỗ trợ trẻ và gia đình, theo dõi để có thể phát hiện các dấu hiệu mất nước nặng, nhiễm trùng nặng…đúng lúc để can thiệp hỗ trợ, đặc biệt trong 48 giờ đầu của bệnh.
Vấn đề hỗ trợ bù nước và dinh dưỡng cho trẻ bệnh tiêu chảy là vấn đề tối ưu trong chăm sóc trẻ. Trẻ nhỏ dưới 1 tuổi, đặc biệt dưới 6 tháng, rất dễ bị mất nước, và vì vậy cần phải được đánh giá theo dõi thường xuyên hơn, có khi mỗi 6-12 giờ. Những trẻ bị suy dinh dưỡng, hoặc có những bệnh mãn tính như bệnh thận, tim mạch, cũng cần được đánh giá cẩn thận hơn. Những dấu hiệu bé có thể bị mất nước bao gồm: lừ đừ (rất buồn ngủ và khó đánh thức ở những cữ ăn/bú sữa bình thường), khô môi miệng, không đi tiểu, tay chân lạnh. Nếu trẻ có một trong những dấu hiệu này, trẻ cần được khám bác sĩ ngay lập tức.
Đa số các trẻ tiêu chảy đều có thể được chăm sóc tại nhà. Điều trị chính là cho trẻ uống nước thường xuyên, để bù lại dịch mất đi từ ói và tiêu chảy. Vì đường ruột bị bệnh, chúng ta không thể cho trẻ uống quá nhanh và quá nhiều như bình thường, vì như thế trẻ sẽ ói lại ngay. Khuyến cáo thường dùng là bù dịch chậm, mỗi 15 phúc một lần, bằng cách uống từ từ, đút muỗng, hoặc bơm chậm qua bơm tiêm đường miệng, với mục tiêu cung cấp cho trẻ khoảng 10-20ml/kg/giờ khi trẻ ói nhiều. Dịch bù tốt nhất là Oresol hoặc Hydrolite. Dùng nước trái cây hoặc nước soda là lựa chọn sai, nên tránh, vì có thể tăng nguy cơ mất nước ở trẻ.
Nếu trẻ không đáp ứng, và vẫn ói nhiều, không dung nạp được dịch bù, nên cho trẻ đi khám. Các bác sĩ có thể đánh giá lại cách bù dịch, hướng dẫn làm đúng cách, hoặc nếu trẻ vẫn ói nhiều mặc dù đã làm đúng cách, các bác sĩ có thể quyết định hỗ trợ trẻ bằng thuốc chống ói và đặt sonde dạ dày để bù dịch qua sonde dạ dày cho trẻ. Rất nhiều ba mẹ nôn nóng khi con ói ọc, và đòi hỏi chích vein truyền dịch liền. Thật sự, bằng chứng nghiên cứu cho thấy, việc bù dịch qua sonde dạ dày cho trẻ là an toàn hơn, và hiệu quả hơn, so với bù dịch qua đường truyền tĩnh mạch. Việc chích vein truyền dịch hiện nay là lựa chọn cuối cùng, khi trẻ vẫn không dung nạp đường dịch bù qua sonde dạ dày, hoặc trẻ mất nước quá nặng, không thể đợi để bù qua sonde dạ dày được.
Không ít gia đình ngưng sữa, hoặc các sản phẩm của sữa khi trẻ bị tiêu chảy. Một số gia đình còn ngưng luôn thức ăn thường ngày của trẻ. Thực hành này hoàn toàn sai. Nên nhớ, ruột bệnh của trẻ vẫn cần dinh dưỡng, và trong những trường hợp tiêu chảy cấp dưới 2 tuần, sẽ không có tình trạng không dung nạp sữa. Vì vậy, thực hành này là nguy hiểm, vì có thể gây cho trẻ thiếu dinh dưỡng trong thời kỳ bệnh, nguy cơ hạ đường huyết vì không có năng lượng cung cấp, và làm tình trạng bệnh nặng hơn hoặc dây dưa hơn.
Khuyến cáo hiện nay là nên tiếp tục thức ăn hoặc sữa như bình thường cho trẻ trong thời gian bệnh. Đặc biệt, khi trẻ cần bù dịch, thì khi bù dịch xong, nên sử dụng lại sữa bình thường càng sớm càng tốt. Trẻ nhỏ thường sẽ có nhu cầu uống sau mỗi lần ói, vì vậy nên tiếp tục cho trẻ bú mẹ, hoặc bú bình. Tiếp tục cho trẻ ăn thức ăn dặm bình thường trong thời gian bệnh, và nên cho trẻ ăn bất kỳ thứ gì trẻ thích (ngoại trừ những thức ăn sống, không được nấu chín). Không nên ngưng sữa mẹ/sữa bình/ thức ăn quá 24 giờ. Chỉ cho trẻ uống nước trái cây và các loại nước soda khi tiêu chảy đã hoàn toàn ngưng hẳn.
Một điều cần lưu ý nữa, là bệnh này rất dễ lây, vì vậy người chăm sóc trẻ nên rửa tay bằng xà phòng thường xuyên, và lau tay khô sau rửa, để hạn chế nguy cơ lây lan của bệnh. Nên rửa tay sau mỗi lần thay tã hoặc chăm trẻ đi toilet, và trước khi chuẩn bị thức ăn, hoặc trước khi ăn. Những khăn tắm, lau cho trẻ bệnh nên chỉ được sử dụng cho trẻ. Trẻ khi bị bệnh nên được ở nhà, và không cho đi học hoặc đi mẫu giáo. Chỉ cho trẻ đi học lại sau 48 giờ từ lần tiêu chảy/ói ọc cuối cùng (2 ngày sau khi hết triệu chứng). Không nên cho trẻ đi bơi cho đến 2 tuần sau lần tiêu chảy cuối cùng.
Thông tin cần ghi nhớ:
1. Trẻ nhỏ rất dễ bị mất nước – vì vậy nên cho uống nước bù thường xuyên
2. Trẻ dưới 6 tháng nên được khám bác sĩ ngay khi bệnh, và có thể cần đánh giá thường xuyên mỗi 6-12 giời
3. Trẻ nhỏ thường uống sau mỗi lần trẻ ói. Tiếp tục cho trẻ bú sữa. Không nên ngưng sữa quá 12-24 giờ.
4. Tiếp tục cho trẻ ăn nếu trẻ muốn, không ngưng cho ăn quá 24 giờ
5. Trẻ nhỏ rất dễ lây bệnh, vì vậy, nên rửa tay thường xuyên khi chăm sóc trẻ.
6. Nên cho trẻ tránh các trẻ khác, vì dễ lây bệnh cho các bạn, cho đến khi bệnh ngưng hẳn.
Khi nào bạn nên cho bé đi khám bác sĩ khi bé bị tiêu chảy?
• Nếu bé không uống được, mà vẫn còn ói và tiêu chảy
• Nếu bé bị tiêu chảy nhiều (8 tới 10 lần đi phân lỏng một ngày, hoặc 2-3 lần đi phân nước rất nhiều mỗi ngày), hoặc nếu bé vẫn còn bị tiêu chảy sau 10 ngày
• Nếu bé ói thường xuyên và không thể dung nạp được bất kỳ chất lỏng nào.
• Nếu bạn nghĩ bé bị mất nước: vd: không đi tè, nhợt nhạt, sụt cân nhiều, mắt trũng, tay chân lạnh, hoặc ngủ li bì khó đánh thức
• Nếu bé bị đau bụng nhiều
• Nếu bạn thấy trong phân có máu
• Nếu bé ói ra dịch xanh lá cây
• Hoặc nếu bạn có BẤT KỲ lo lắng nào
Nguồn: Bs. Huyên Thảo.
Gastroenteritis – Kids Health Info and Clinical Practice Guidelines – The Royal Children’s Hospital – Melbourne, Australia.
NewVnNews
NewVnNews - Viêm tiểu phế quản là một nhiễm virus đường hô hấp, thường xảy ra ở trẻ dưới 6 tháng tuổi, tuy nhiên đôi khi cũng xảy ra ở trẻ nhỏ đến 1 tuổi. Như tên gọi, bệnh này gây viêm nhiễm, tắc nghẽn đường khí nhỏ dẫn vào phổi của bé (tiểu phế quản), và gây ra những triệu chứng về hô hấp và toàn thân cho trẻ.
Những dấu hiệu và triệu chứng của bệnh:
• Bệnh thường bắt đầu như một cơn cảm trong 1-2 ngày đầu, và trẻ sẽ có các triệu chứng như sổ mũi, ho nhẹ, nghẹt mũi.
• Sau đó, trẻ bắt đầu ho nhiều hơn, thở nhanh hơn và nghe khò khè. Vì vậy, trẻ sẽ khó ăn uống hơn. Những triệu chứng thường gặp lúc này là: thở nhanh, bú/ăn kém, thở khò khè, co lõm ngực/bụng khi thở, sốt.
• Trẻ bị viêm tiểu phế quản thường tệ nhất trong ngày thứ 2 và thứ 3, và sau đó cải thiện dần dần, nhưng đợt bệnh có thể kéo dài 7 đến 10 ngày. Sau khi hết đợt bệnh, trẻ có thể ho dai dẳng 2-4 tuần mới dứt hẳn.
Điều trị:
• KHÔNG HÚT THUỐC TRONG NHÀ HOẶC XUNG QUANH TRẺ. Điều này đặc biệt quan trọng với trẻ bị bệnh đường hô hấp. Hút thuốc trong nhà làm tăng nguy cơ trẻ bị viêm tiểu phế quản và làm bệnh trẻ nặng hơn.
• Các loại thuốc thường không giúp được cho trẻ bị viêm tiểu phế quản. Vì đây là một nhiễm virus nên trẻ không cần sử dụng kháng sinh.
• Trẻ cần nghỉ ngơi, và cho ăn uống lượng nhỏ hơn, thường xuyên hơn. Thực hành này sẽ giúp trẻ không bị đuối sức khi ăn, đồng thời tránh làm trẻ bị mất nước và trở nặng do mất nước trong đợt bệnh này.
Nên cho trẻ đi khám bác sị khi:
• Trẻ bị ho nhiều hơn
• Trẻ ăn uống được chỉ khoảng ½ so với bình thường, hoặc trẻ không chịu ăn uống
• Trẻ có vẻ mệt mỏi, đừ hoặc buồn ngủ hơn mọi khi
• Nếu bạn có bất kỳ lo lắng gì
Nên cho trẻ đến phòng CẤP CỨU của bệnh viện gần nhất nếu:
• Trẻ khó thở (thở rất nhanh hoặc thở không đều)
• Không thể ăn uống bình thường do ho hoặc khò khè
• Nếu trẻ bị thay đổi màu da mặt khi trẻ ho
• Trẻ bị tím, hoặc da nhợt nhạt, vã mồ hôi
Những điểm cần lưu ý:
• Trẻ cần nghỉ ngơi, uống lượng nhỏ thường xuyên hơn
• Bệnh viêm tiểu phế quản dễ lây trong vài ngày đầu của bệnh.
• Bệnh phổ biến ở trẻ dưới 1 tuổi.
• Trẻ thường bệnh 3-5 ngày, sau đó phục hồi trong 7-10 ngày sau. Ho có thể kéo dài 2-4 tuần.
• HÚT THUỐC LÁ làm tăng nguy cơ trẻ nhỏ bị viêm tiểu phế quản, và làm cho bệnh của trẻ nặng hơn.
Nguồn: Bs. Huyên Thảo.
Bronchiolitis – Kids Health Info – Royal Children’s Hospital, Melbourne, Australia
Những dấu hiệu và triệu chứng của bệnh:
• Bệnh thường bắt đầu như một cơn cảm trong 1-2 ngày đầu, và trẻ sẽ có các triệu chứng như sổ mũi, ho nhẹ, nghẹt mũi.
• Sau đó, trẻ bắt đầu ho nhiều hơn, thở nhanh hơn và nghe khò khè. Vì vậy, trẻ sẽ khó ăn uống hơn. Những triệu chứng thường gặp lúc này là: thở nhanh, bú/ăn kém, thở khò khè, co lõm ngực/bụng khi thở, sốt.
• Trẻ bị viêm tiểu phế quản thường tệ nhất trong ngày thứ 2 và thứ 3, và sau đó cải thiện dần dần, nhưng đợt bệnh có thể kéo dài 7 đến 10 ngày. Sau khi hết đợt bệnh, trẻ có thể ho dai dẳng 2-4 tuần mới dứt hẳn.
Điều trị:
• KHÔNG HÚT THUỐC TRONG NHÀ HOẶC XUNG QUANH TRẺ. Điều này đặc biệt quan trọng với trẻ bị bệnh đường hô hấp. Hút thuốc trong nhà làm tăng nguy cơ trẻ bị viêm tiểu phế quản và làm bệnh trẻ nặng hơn.
• Các loại thuốc thường không giúp được cho trẻ bị viêm tiểu phế quản. Vì đây là một nhiễm virus nên trẻ không cần sử dụng kháng sinh.
• Trẻ cần nghỉ ngơi, và cho ăn uống lượng nhỏ hơn, thường xuyên hơn. Thực hành này sẽ giúp trẻ không bị đuối sức khi ăn, đồng thời tránh làm trẻ bị mất nước và trở nặng do mất nước trong đợt bệnh này.
Nên cho trẻ đi khám bác sị khi:
• Trẻ bị ho nhiều hơn
• Trẻ ăn uống được chỉ khoảng ½ so với bình thường, hoặc trẻ không chịu ăn uống
• Trẻ có vẻ mệt mỏi, đừ hoặc buồn ngủ hơn mọi khi
• Nếu bạn có bất kỳ lo lắng gì
Nên cho trẻ đến phòng CẤP CỨU của bệnh viện gần nhất nếu:
• Trẻ khó thở (thở rất nhanh hoặc thở không đều)
• Không thể ăn uống bình thường do ho hoặc khò khè
• Nếu trẻ bị thay đổi màu da mặt khi trẻ ho
• Trẻ bị tím, hoặc da nhợt nhạt, vã mồ hôi
Những điểm cần lưu ý:
• Trẻ cần nghỉ ngơi, uống lượng nhỏ thường xuyên hơn
• Bệnh viêm tiểu phế quản dễ lây trong vài ngày đầu của bệnh.
• Bệnh phổ biến ở trẻ dưới 1 tuổi.
• Trẻ thường bệnh 3-5 ngày, sau đó phục hồi trong 7-10 ngày sau. Ho có thể kéo dài 2-4 tuần.
• HÚT THUỐC LÁ làm tăng nguy cơ trẻ nhỏ bị viêm tiểu phế quản, và làm cho bệnh của trẻ nặng hơn.
Nguồn: Bs. Huyên Thảo.
Bronchiolitis – Kids Health Info – Royal Children’s Hospital, Melbourne, Australia
NewVnNews
NewVnNews - Thuỷ đậu là một bệnh nhiễm virus có tên Varicella virus. Thời gian ủ bệnh từ khi nhiễm virus đến khi có triệu chứng là khoảng 10 đến 21 ngày, trung bình là 2 tuần.
Khi phát bệnh, trẻ có những dấu hiệu sau:
• Sốt nhẹ
• Cảm thấy mệt mỏi và quấy
• Ngứa
• Ban bong nước, thường xuất hiện đầu tiên ở ngực, lưng hoặc mặt, sau đó đi lan ra các phần khác của cơ thể, đôi khi có thể xuất hiện trong miệng. Ban đầu, sẩn da nhìn giống những đầu mụn nhỏ, sau đó trở thành các bóng nước.
Ở đa số các trường hợp, tương tự như những trường hợp nhiễm virus khác, ngừơi bệnh sẽ khó chịu trong vòng 5 đến 7 ngày, sau đó từ từ tự hồi phục. Đây là một trong những bệnh nhiễm virus hiếm hoi có thể điều trị bẳng thuốc kháng virus đặc hiệu. Tuy nhiên, chỉ có một số ít trường hợp cần chỉ định thuốc kháng virus – điều này nên được đánh giá và quyết định bởi bác sĩ. Đa số các trường hợp không cần điều trị bằng thuốc kháng virus, mà chỉ điều trị triệu chứng như giảm đau, giảm sốt, giảm ngứa khi cần.
Trong đợt bệnh, trẻ, đặc biệt là trẻ nhỏ, sẽ biếng ăn uống, vì vậy nên chú ý hỗ trợ cho trẻ giúp trẻ uống đủ nước và ăn, uống sữa từ từ, từng lượng nhỏ. Có thể cho trẻ uống từng ngụm nước, súp, hoặc mút kem đá, nhằm tránh mất nước cho trẻ.
Đây là một bệnh cực kỳ dễ lây nhiễm, và vì vậy dễ bị bệnh khi tiếp xúc với người mang bệnh. Thời gian lây nhiễm của bệnh bắt đầu từ 1-2 ngày trước khi có triệu chứng lâm sàng, và kéo dài cho đến khi các bóng nước cuối cùng khô hẳn. Trẻ khi bị thuỷ đậu nên để ở nhà, không được đi học để hạn chế lây bệnh cho các bạn và thầy cô trong trường. Một số thành viên trong gia đình như trẻ sơ sinh, phụ nữa có thai chưa bị thuỷ đậu bao giờ, hoặc những người bị bệnh làm suy giảm hệ miễn dịch như ung thư đang điều trị, hoặc bệnh cần dùng các loại steroids dài hạn, nên cách ly hoàn toàn với trẻ. Đa số những người đã bị thuỷ đậu rồi không bị lại lần nữa.
Một số ít trường hợp các bóng nước có thể bị nhiễm trùng kèm theo, và có thể phải cần đánh giá của bác sĩ để quyết định điều trị kháng sinh. Khi trẻ vừa bị bệnh, nên cắt móng tay cho trẻ, để giảm tổn thương da khi trẻ gãi do ngứa, giảm nguy cơ nhiễm trùng đi kèm.
Biến chứng của bệnh xảy ra ở một số ít trường hợp mà thôi. Tính ra, khoảng 1 trong 5000 người bị thuỷ đậu sẽ có biến chứng viêm não, và 3 trong 100,000 ca bệnh sẽ tử vong.
Thuỷ đậu là một bệnh có thể phòng ngừa được hữu hiệu bằng vaccine ngừa thuỷ đậu, có thể bắt đầu chích ngừa thuỷ đậu từ lúc trẻ được 1 tuổi. Tuỳ từng loại vaccine thuỷ đậu, trẻ có thể cần chỉ một liều duy nhất trong đời, hoặc cần hai liều, cách nhau tối thiểu 1 tháng. Tại nhiều quốc gia, chích ngừa thuỷ đậu được đưa vào khuyến cáo chích ngừa thường qui cho trẻ.
Những điểm cần gi nhớ:
• Bệnh thuỷ đậu rất dễ lây nhiễm
• Bệnh đa số tự hết và hiếm có biến chứng, chỉ cần điệu trị hỗ trợ triệu chứng
• Kháng sinh chỉ được sử dụng khi có nghi ngờ nhiễm trùng đi kèm
• Thời gian ủ bệnh là 10-21 ngày.
• Thời gian lây bệnh là 1-2 ngày trước khi có triệu chứng, cho đến khi tất cả các bóng nước khô mặt hẳn.
• Cách ly và tránh tiếp xúc là biện pháp cần có để tránh lây nhiễm.
• Vaccine thuỷ đậu có thể phòng ngừa bệnh hiệu quả.
Nguồn: Bs. Huyên Thảo
Kids info – Royal Children’s Hospital, Melbourne, Australia.
Khi phát bệnh, trẻ có những dấu hiệu sau:
• Sốt nhẹ
• Cảm thấy mệt mỏi và quấy
• Ngứa
• Ban bong nước, thường xuất hiện đầu tiên ở ngực, lưng hoặc mặt, sau đó đi lan ra các phần khác của cơ thể, đôi khi có thể xuất hiện trong miệng. Ban đầu, sẩn da nhìn giống những đầu mụn nhỏ, sau đó trở thành các bóng nước.
Ở đa số các trường hợp, tương tự như những trường hợp nhiễm virus khác, ngừơi bệnh sẽ khó chịu trong vòng 5 đến 7 ngày, sau đó từ từ tự hồi phục. Đây là một trong những bệnh nhiễm virus hiếm hoi có thể điều trị bẳng thuốc kháng virus đặc hiệu. Tuy nhiên, chỉ có một số ít trường hợp cần chỉ định thuốc kháng virus – điều này nên được đánh giá và quyết định bởi bác sĩ. Đa số các trường hợp không cần điều trị bằng thuốc kháng virus, mà chỉ điều trị triệu chứng như giảm đau, giảm sốt, giảm ngứa khi cần.
Trong đợt bệnh, trẻ, đặc biệt là trẻ nhỏ, sẽ biếng ăn uống, vì vậy nên chú ý hỗ trợ cho trẻ giúp trẻ uống đủ nước và ăn, uống sữa từ từ, từng lượng nhỏ. Có thể cho trẻ uống từng ngụm nước, súp, hoặc mút kem đá, nhằm tránh mất nước cho trẻ.
Đây là một bệnh cực kỳ dễ lây nhiễm, và vì vậy dễ bị bệnh khi tiếp xúc với người mang bệnh. Thời gian lây nhiễm của bệnh bắt đầu từ 1-2 ngày trước khi có triệu chứng lâm sàng, và kéo dài cho đến khi các bóng nước cuối cùng khô hẳn. Trẻ khi bị thuỷ đậu nên để ở nhà, không được đi học để hạn chế lây bệnh cho các bạn và thầy cô trong trường. Một số thành viên trong gia đình như trẻ sơ sinh, phụ nữa có thai chưa bị thuỷ đậu bao giờ, hoặc những người bị bệnh làm suy giảm hệ miễn dịch như ung thư đang điều trị, hoặc bệnh cần dùng các loại steroids dài hạn, nên cách ly hoàn toàn với trẻ. Đa số những người đã bị thuỷ đậu rồi không bị lại lần nữa.
Một số ít trường hợp các bóng nước có thể bị nhiễm trùng kèm theo, và có thể phải cần đánh giá của bác sĩ để quyết định điều trị kháng sinh. Khi trẻ vừa bị bệnh, nên cắt móng tay cho trẻ, để giảm tổn thương da khi trẻ gãi do ngứa, giảm nguy cơ nhiễm trùng đi kèm.
Biến chứng của bệnh xảy ra ở một số ít trường hợp mà thôi. Tính ra, khoảng 1 trong 5000 người bị thuỷ đậu sẽ có biến chứng viêm não, và 3 trong 100,000 ca bệnh sẽ tử vong.
Thuỷ đậu là một bệnh có thể phòng ngừa được hữu hiệu bằng vaccine ngừa thuỷ đậu, có thể bắt đầu chích ngừa thuỷ đậu từ lúc trẻ được 1 tuổi. Tuỳ từng loại vaccine thuỷ đậu, trẻ có thể cần chỉ một liều duy nhất trong đời, hoặc cần hai liều, cách nhau tối thiểu 1 tháng. Tại nhiều quốc gia, chích ngừa thuỷ đậu được đưa vào khuyến cáo chích ngừa thường qui cho trẻ.
Những điểm cần gi nhớ:
• Bệnh thuỷ đậu rất dễ lây nhiễm
• Bệnh đa số tự hết và hiếm có biến chứng, chỉ cần điệu trị hỗ trợ triệu chứng
• Kháng sinh chỉ được sử dụng khi có nghi ngờ nhiễm trùng đi kèm
• Thời gian ủ bệnh là 10-21 ngày.
• Thời gian lây bệnh là 1-2 ngày trước khi có triệu chứng, cho đến khi tất cả các bóng nước khô mặt hẳn.
• Cách ly và tránh tiếp xúc là biện pháp cần có để tránh lây nhiễm.
• Vaccine thuỷ đậu có thể phòng ngừa bệnh hiệu quả.
Nguồn: Bs. Huyên Thảo
Kids info – Royal Children’s Hospital, Melbourne, Australia.
NewVnNews
Điều gì khiến lương y Ngô Đức Vượng từ một người ốm yếu vượt qua được ngưỡng bệnh tật để trở thành người 30 năm không dùng thuốc, không đến bệnh viện? Cùng nghe và chia sẻ những lời ông nói để hiểu lối sống và cách ăn uống của con người hiện đại đa số thường mắc sai lầm và dẫn đến bệnh tật.
- Hầu hết mọi bệnh tật đều là hậu quả trực tiếp hoặc gián tiếp của cách ăn uống không hợp lý. Sau một thời gian luyện tập và thay đổi cách ăn uống tôi mới đạt được sự cân bằng. Tôi đã thay đổi từ một người ốm đau, bệnh tật thành một người khỏe mạnh. Năm nay tôi 76 tuổi nhưng 30 năm nay tôi không uống một viên thuốc nào. Tôi tin, mọi người đều làm được. Cách thay đổi cuộc sống của tôi chính là thay đổi cách ăn uống, luyện tập và thay đổi cả phong cách sống và môi trường sao cho tốt.
Điểm lại, các tài liệu khoa học đều chỉ ra rằng mọi bệnh tật đều đến từ nguyên nhân: Môi trường, phong cách sống và ăn uống. Tình cờ mà tôi đi đúng, giờ đây tôi thấy đó là cách hoàn toàn chính xác.
Ngoài chuyện viết giáo trình, cơ duyên nào khiến ông đi sâu vào nghiên cứu ẩm thực phương Đông?
- Khi viết cuốn sách đó, càng ngày tôi càng ngộ ra nhiều điều lý thú trong vấn đề ăn uống mà lúc đầu cầm bút tôi chưa tính hết. Thứ nhất là vai trò của thức ăn hạt. Nguyên thủy tổ tiên xa xưa của loài người là ăn thịt, ăn thịt nhiều nên dương tính rất cao và bồn chồn không yên, rất sợ lửa. Do bản năng sinh tồn, con người chuyển dần sang ăn hạt và ăn rau sống, âm hóa thức ăn lại. Nhưng sau một thời gian âm quá, con người lại trở nên sợ lửa nên cũng không tốt. Cuối cùng, con người chuyển sang ăn hạt, làm cho trí tuệ con người phát triển. Mặt khác, cám ở các loại hạt có nhiều vitamin, giúp cho thể chất con người hoàn thiện. Ăn hạt không âm, không dương, vì thế, con người ít sợ lửa và bắt đầu biết dùng lửa. Tôi cho đây là một điều tuyệt vời.
Những phát hiện trong quá trình nghiên cứu của ông đi ngược lại với cách suy nghĩ thông thường của các bác sĩ Tây y. Vì sao như vậy?
- Khi tìm hiểu sâu hơn về ăn uống, tôi phát hiện ra nhiều vấn đề, sức khỏe con người suy giảm là do đa phần từ ăn uống. Nghiên cứu về khoa học thực dưỡng, có nhiều trường phái. Tây phương cho rằng, cơ thể con người cần gì thì cung cấp cái đó, mới nghe thì có lý nhưng lại vô lý vì con trâu, con bò có cơ bắp nhưng có ăn thịt đâu. Bò sữa nhiều sữa nhưng chả ai cho nó uống sữa, gà đẻ trứng cũng không ăn trứng. Các bà mẹ trẻ ngày trước không biết sữa là gì vẫn nhiều sữa cho con bú, còn ngược lại, các bạn trẻ ngày nay uống nhiều sữa mà không đủ sữa cho con. Quan niệm trên không ổn, nên tôi tìm về Đông phương. Có nhiều tài liệu, nhưng tôi quy về hai quy luật. Đông phương quan niệm mọi sự vật đều sống được nhờ lấy năng lượng từ vũ trụ, mà năng lượng tập trung đầu tiên ở cây xanh, nên cây xanh là mẹ của muôn loài, thực vật là thức ăn thượng đẳng nhất của loài người. Thứ hai là thức ăn của muôn loài đều phù hợp với cấu tạo và sinh lý của loài sinh vật đó.
Vì sao ông cho rằng con người nên ăn chay, nhất là theo phương pháp dưỡng thực của Ohsawa thì tốt hơn là ăn mặn?
- Qua nghiên cứu, tôi thấy, những nước giàu ăn thịt nhiều, bệnh tật nhiều hơn mà thôi. Những nước nghèo, những nước đang phát triển không có thịt mà ăn thì bệnh tật lại ít… Đi sâu hơn vào thực phẩm, tôi rút ra 7 tiêu chuẩn của thực phẩm; thiếu 1 trong 7, sức khỏe bị đe dọa. Đó là, thức ăn phải phù hợp với sinh lý của cơ thể; thứ hai, thức ăn phải có lực vũ trụ phù hợp, trong đó có lực tri giác, lực biến dị và lực tĩnh; thứ 3, thức ăn phải thuần khiết; thứ tư, thức ăn phải đủ chất; thứ năm, thức ăn quân bình âm dương (đây là vấn đề Tây phương không biết); thứ 6, thức ăn phải tạo môi trường kiềm, vì cơ thể khỏe mạnh có độ PH hơi kiềm 7,35 - 7,4; xuống dưới 7,3 là đủ thứ bệnh, xuống 7,0 là ung thư phát triển. Cuối cùng, thức ăn phải có nhịp sinh học phù hợp. Trong 7 tiêu chuẩn này, tôi nghĩ, rất hiếm người nào thực hiện được 1 tiêu chuẩn, đó chính là vấn đề. Mọi người luôn ăn nói đủ chất, nhưng ăn thế nào cho đủ là nhiều tranh cãi. Con vật bị giam, nhốt, bí bức, không tự nhiên, tiết ra chất độc, khiến con người ăn thịt vào cũng không yên. Trong khi hệ thực vật thần kinh chưa phát triển, ăn vào không sao. Thứ hai, mầm bệnh của động vật dễ truyền sang cho người, trong khi thực vật cũng có bệnh nhưng không truyền sang người. Có thể đó là ý đồ sáng tạo của tạo hóa, tạo hóa muốn nhắc nhở con người rằng đừng ăn thịt động vật mà ăn thực vật.
Có một câu nói rất hay, thực phẩm là cầu nối giữa con người và vũ trụ. Ông đã nói đến lợi ích của việc ăn chay nhưng vì sao có những người ăn chay trường nhưng vẫn mắc nhiều bệnh, trong đó có ung thư?
- Dù ăn chay hay mặn nhưng không tuân theo luật âm dương của trời đất thì kết quả sẽ không tốt đẹp, có thể mắc nhiều bệnh, kể cả bệnh nan y. Nhiều người ăn chay trường, nhiều cơ sở tu hành, nhất là các cửa hàng nấu đồ chay mà tôi đã trực tiếp tìm hiểu, thường sử dụng quá nhiều mì chính (bột ngọt) cho ngon miệng, vì nghĩ rằng đó là loại thực phẩm chay mà không hiểu rằng đó chính là hóa chất rất độc hại. Thêm vào đó, nhiều người ăn chay trường mà không theo đúng nguyên lý âm dương, thường ăn quá nhiều thức ăn âm như nấm, giá, măng, hoa quả, ăn nhiều dầu, uống quá nhiều nước, nhất là nước ngọt, nước đá, nước mát trong tủ lạnh… Bên cạnh đó, nhiều người chưa nhận thức đúng và thực hành tốt việc rèn luyện làm chủ tâm thức nên không tin vào phương pháp thực dưỡng theo nguyên lý âm dương, hoặc quá tham sân si nên đã trợ duyên cho bệnh tật phát sinh, tung hoành.
Xin ông cho biết sai lầm của lối sống hiện đại là gì?
- Ăn uống là vấn đề cực kỳ quan trọng, liên quan mật thiết tới mọi người, mọi lúc, mọi nơi, quyết định sự tồn vong của loài người. Thế nhưng, trớ trêu thay, loài người đang mắc sai lầm nghiêm trọng trong vấn đề tối thiết yếu này. Con người hiện đại ngày càng sống xa rời tự nhiên, ăn uống không đúng cách, nên những ưu thế sinh học của loài người đang sa sút, mất dần. Vì vậy đến lúc cần gióng lên hồi chuông báo động khẩn cấp. Khi đồ ăn có nguồn gốc động vật, thức uống pha thêm đường, sữa, màu, gia vị nhân tạo đi vào cuộc sống hàng ngày thì sức khỏe sẽ suy sụp. Máy xay xát ngũ cốc đã nghiền nát sinh lực con người, nước giải khát đóng hộp, đóng chai, buộc người văn minh cần răng giả. Cách ăn uống và lối sống hiện nay đã mở đường đến các nhà thương lớn nhỏ, kể cả các các bệnh viện ung thư, nhà thương điên mọc lên khắp nơi.
Bản thân tôi từng chữa lành cho nhiều người bị bệnh ung thư nhờ kết hợp chế độ ăn theo phương pháp dưỡng sinh của Ohsawa. Tuy nhiên, cũng có trường hợp đã khỏi, song lại ăn gạo trắng cùng các thức ăn nguy hại trở lại nên không tránh khỏi cái chết. Có trường hợp hết bệnh, họ quay trở lại để xin tôi tư vấn nên mở quán ăn thực dưỡng hay không. Những người đó xứng đáng được chữa lành bệnh, vì họ biết lấy cái ơn được cứu sống mà đem giúp người khác. Phương pháp dưỡng sinh tưởng như khó thực hiện, đòi hỏi những bệnh nhân phải có ý chí, song khi đã làm được thì họ được tưởng thưởng xứng đáng. Tôi muốn nói rằng có những người bệnh xứng đáng được chữa, trước tiên phải từ ý chí mạnh mẽ của họ. Mỗi người chính là bác sĩ tự cứu chữa cho mình.
Xin ông nói rõ hơn vì sao đường, sữa, trái cây - những thức ăn lâu nay người ta luôn mang đến tặng người bệnh - lại là kẻ thù gây ra nhiều bệnh tật cho con người?
Một số nhà dinh dưỡng học đã nhận xét: Công nghệ sản xuất nước ngọt đóng chai, đóng hộp đã mở đường cho kỹ nghệ làm răng giả phát triển. Theo tôi, đường đích thực là kẻ sát nhân độc ác trong lịch sử nhân loại, nó gây nguy hại đặc biệt cho những người ăn gạo xát trắng. Tế bào ung thư vô cùng thích đường, nên cho người bệnh ung thư ăn là cách nối giáo cho giặc hiệu quả nhất. Thường xuyên ăn nhiều đường, cơ thể suy nhược, các bệnh như tiểu đường, rối loạn chức năng, béo phì, thần kinh phân liệt, loãng xương, xốp xương, hư răng… xuất hiện.
Còn uống sữa và ăn các sản phẩm chế biến từ sữa thường gây đờm nhớt trong cơ thể, nhất là ở đường ruột, dạ dày và đường hô hấp, từ đó dễ bị cảm lạnh, dị ứng, viêm xoang, viêm loét đường tiêu hóa… Điều nói thêm là niêm dịch, chủ yếu đờm nhớt là “thức ăn lý tưởng” cho các vi trùng gây bệnh và tế bào ung thư. Cho trẻ ăn sữa bò là đã biến đứa con thân yêu của mình thành đứa trẻ cùng mẹ khác cha với con bò. Thực tế nhiều nhà nghiên cứu khẳng định: Xã hội nào dùng nhiều sữa bò hay lạm dụng thuốc bổ có canxi sẽ khổ sở vì xương bị lão hóa hoặc nứt xương chậu. Còn trái cây thuộc dạng thức ăn âm, đưa vào người sẽ thịnh âm, dễ bị ung thư. Nhiều người ăn chay nghiêm ngặt nhưng lại thường ăn trái cây và nấm, mang âm tính cao nên sức khỏe suy sụp, nặng thì mắc bệnh hiểm nghèo.
Ăn gạo lứt muối mè theo nguyên lý âm dương tốt cho sức khỏe, xin ông nói rõ hơn về tác động tích cực của phương pháp này?
- Do cách sống sai, môi trường không trong sạch, ăn trái tự nhiên nên độc tố tích tụ trong các mô, cơ quan và từng tế bào, gây cản trở, làm rối loạn mọi hoạt động sinh lý của cơ thể, từ đó bệnh xuất hiện!
Tác dụng đầu tiên và rõ rệt nhất của việc ăn cơm gạo lứt muối mè là đào thải các chất độc, cặn bã đó. Quá trình này thực chất là các thành phần tốt của cơm gạo lứt muối mè được từng tế bào tiếp nhận để thay thế những thành phần không tốt trước đó. Thế là cơ thể được đổi mới, trong sạch, các hoạt động sinh lý trở lại bình thường, bệnh hết, sức khỏe phục hồi. Ăn một thời gian sức khỏe tốt hẳn lên, khả năng làm việc, chịu đựng tăng tiến rõ rệt, nhiều bệnh thông thường và bệnh nan y bị đẩy lùi, trong người luôn có cảm giác thanh thản, nhẹ nhàng. Mà khi sức khỏe hoàn hảo sẽ khai mở trí phán đoán… Thực dưỡng không chỉ là ăn uống mà là một triết lý sống sâu sắc.
Nhịn ăn chữa bệnh đúng phương pháp mang lại hiệu quả gì, thưa ông?
- Nhịn ăn là để cơ thể được nghỉ ngơi, mà nghỉ ngơi là điều luôn cần thiết đối với người bệnh; trái lại ăn vào trong lúc không có khả năng tiêu hóa, hấp thu chỉ làm cho cơ thể bệnh thêm suy nhược, đó mới chính là sự thách thức nguy hiểm. Cho nên, bệnh cấp tính càng nặng càng không nên ăn. Con người luôn ăn nhiều quá mức cần thiết, nên gan phải làm việc liên tục quá sức, nên mệt mỏi, về già sinh bệnh suy kiệt, chóng chết. Cách giúp cho gan phục hồi nghỉ ngơi là nhịn ăn.
Có những ý kiến của ông có thể chưa được nhiều người đồng thuận, đó cũng là những vấn đề cần tiếp tục thảo luận. Xin cảm ơn ông!
Lao Động
Subscribe to:
Posts (Atom)
Mới Nhất
Đọc Nhiều
-
Trịnh Công Sơn cùng với tiếng hát Khánh Ly đã gắn liền với tôi từ còn nhỏ xíu, cái thời còn thịnh hành băng cassette. Tôi "bị buột...
-
Chủ nghĩa tư bản sẽ còn phát triển hơn nữa, sẽ rất lâu nữa mới đến thời kỳ tột đỉnh của nó, và còn có nhiều sự điều chỉnh, thích nghi mỗ...
-
NewVnNews - Xin trân trọng giới thiệu đến bà con xứ Nghệ 500 trăm câu thành ngữ, tục ngữ và ca dao chọn lọc của xứ Nghệ Ti...
-
NewVnNews - Bài viết công phu của nhà báo Paul Mason đăng trên tờ The Guardian đặt ra một vấn đề tạo ra rất nhiều tranh cãi, nhưng đáng...
-
NewVnNews - Cách đây 67 năm, vào ngày 10 tháng 12 năm 1948, tai Paris – Thủ đô nước Pháp – Bản Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền đã ra đời...
-
GIẤC MƠ VIỆT NAM ! [Đang biên tập] "Hỡi đồng bào cả nước, Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quy...
-
BI KỊCH TRỊNH CÔNG SƠN. [Đang biên tập] Tôi gặp Trịnh Công Sơn vào năm 1958 tại Huế; lúc đó Sơn khoảng 17 tuổi và tôi 18 tuổi. Chúng tôi c...
-
(NewVnNew) Từ tháng 10 năm nay Nhật Bản sẽ bắt đầu triển khai chế độ quản lí công dân bằng 1 mã số duy nhất cho từng người dân, dùng c...
-
NGUYÊN TẮC VÀNG NUÔI CON KHỎE 1 Tắm cho bé: dưới 3 tháng tắm trước 10h - dưới 6 tháng tắm trước 12h - dưới 1 tuổi tắm trước 15h. dưới 3 tuổi...
-
NewVnNews - Từ “biệt phủ” mới xuất hiện gần đây trong tiếng Việt (có nhẽ là từ ngày có cái Việt phủ Thành Chương cũng nên?). Biệt phủ 20...




















