Chuyên Mục "Tư Liệu - Tra Cứu"
Showing posts with label Tư Liệu - Tra Cứu. Show all posts
NewVnNews - Xin trân trọng giới thiệu đến bà con xứ Nghệ 500 trăm câu thành ngữ, tục ngữ và ca dao chọn lọc của xứ Nghệ Tịnh. Đã là thành ngữ, tục ngữ, ca dao thì có câu tục câu thanh. Nhưng dù tục hay thanh khi được dùng đúng lúc đúng nơi phù hợp với hoàn cảnh thì đều mang đậm hồn quê. Mọi người sưu tầm và giới thiệu để bổ sung thêm nhé.
1. Mờng như mụ tra được mấn mới
2. Ai cười l... con nít ai cười địt mụ tra
3. Mần ăn như tru dậm chạc mụi
4. Nác đến khu bù mới nhảy
5. Khéo nói hơn bạo mần
6. Tốn nác rác nhà
7. Mặt như chạc cày bện ba
8. Mắt thì mù lộ khu thì sáng
9. Ăn cho nên đọi nói cho nên lời
10. Ăn vô khôông to ngang thì cụng nậy dọc
1. Mờng như mụ tra được mấn mới
2. Ai cười l... con nít ai cười địt mụ tra
3. Mần ăn như tru dậm chạc mụi
4. Nác đến khu bù mới nhảy
5. Khéo nói hơn bạo mần
6. Tốn nác rác nhà
7. Mặt như chạc cày bện ba
8. Mắt thì mù lộ khu thì sáng
9. Ăn cho nên đọi nói cho nên lời
10. Ăn vô khôông to ngang thì cụng nậy dọc
NewVnNews - Công điện do Tòa Ðại Sứ Mỹ ở Hà Nội gởi về Washington DC, đề ngày 26 tháng 11 năm 2002 đưa ra cái nhìn toàn cảnh về “văn hóa tình dục” tại Việt Nam mà công điện gọi là “Sex and The City – Hanoi Style.” Tệ nạn xã hội ở Hà Nội Ðảng Cộng Sản và nhà nước Việt Nam xác nhận tệ nạn mãi dâm là vấn đề lớn của quốc gia. Vũ trường, quán karaoke, tiệm massage và các tụ điểm “giải trí,” ngay cả ở Hà Nội, nơi các dịch vụ mua bán dâm đang ngày càng nở rộ theo cách chuyên nghiệp hoặc bán chuyên nghiệp.
![]() |
| Ảnh một vũ trường tấp nập tại Hà Nội, một hình ảnh khó có thể tìm thấy những năm trước và sau 1975 tại Hà Nội. Nhưng lại rất dễ bắt gặp tại Sài Gòn. |
NewVnNews - Sự khác biệt giữa thiên niên kỷ và năm 2000? Ngày 01 tháng 1 năm 2000 có phải là ngày bắt đầu của một thế kỷ mới?
Giải thích ngắn
Thiên niên kỷ thứ 3 bắt đầu từ ngày 1 tháng 1 của năm 2001, Không phải là vào ngày 01 tháng 1 năm 2000 như nhiều người sử dụng lịch Gregorian tin. Năm 2000 bắt đầu ngày 1 tháng 1, năm 2000.
Giải thích dài
Lý do tại sao thiên niên kỷ thứ 3, còn được gọi là thế kỷ 21, bắt đầu vào năm 2001 là bởi vì không có năm 0, tức là không có AD năm 0, cũng không có một năm 0 BC. Năm trước AD năm 1 được định nghĩa là năm 1 BC, do đó bỏ qua năm 0. (Xem bên dưới ). Do đó, tháng 1, năm 1, được định nghĩa là sự bắt đầu của thế kỷ thứ 1 và sự bắt đầu của thiên niên kỷ 1.
Bởi vì một thiên niên kỷ là 1000 năm, thiên niên kỷ đầu tiên kết thúc với năm 1000. Tiếp theo (2) Thiên niên kỷ bắt đầu 1000 năm sau khi người đầu tiên, đó là trong năm 1 + 1000 = 1001. Và một trong những thứ 3 bắt đầu 1000 năm chậm nhất là thứ 2: 1001 + 1000 = 2001. Xem bảng dưới đây để biết thêm thông tin.
Về lễ mừng thiên niên kỉ mới vào năm 2000?
Chúng ta có thể ăn mừng cả hai năm, mặc dù có lẽ hầu hết mọi người sẽ nghĩ đầu năm 2000 là một lễ kỷ niệm lớn hơn đầu năm 2001. Vào đầu năm 2000, chúng ta mừng rằng đó là một số tròn đặc biệt, và vào lúc bắt đầu của năm 2001, chúng ta có thể ăn mừng một thế kỷ mới, một thiên niên kỷ mới, và rằng 2000 năm đã trôi qua kể từ năm 1 bắt đầu.
Tại sao không có năm 0?
Khi hệ thống hiện nay chúng ta sử dụng để đếm năm được phát minh bởi học giả Dionysius Exiguus trong thế kỷ thứ 6, và sau đó được công nhận ở toàn châu Âu, chữ số La Mã được sử dụng, mà không có một số không. Do đó 1 BC là năm trước công nguyên 1, không có năm 0 (năm nối tiếp: năm 3 trước Công nguyên, năm 2 BC, 1 BC, năm 1 sau Công nguyên, AD 2, AD 3, vv ...)
Trường hợp ngoại lệ - Lịch Khác
Có rất nhiều lịch khác trong việc sử dụng khác với Lịch Gregorian, ví dụ như người Do Thái, Hồi giáo, Phật giáo, mà bắt đầu đánh số năm cho kỷ nguyên ban đầu tại một thời điểm khác so với Julian / lịch Gregorian, và do đó họ không ăn mừng thiên niên kỷ thứ 3 cùng một lúc. Tuy nhiên, hầu hết trong số họ vẫn sử dụng lịch Gregorian cho dân dụng.
Theo timeanddate.com
Giải thích ngắn
Thiên niên kỷ thứ 3 bắt đầu từ ngày 1 tháng 1 của năm 2001, Không phải là vào ngày 01 tháng 1 năm 2000 như nhiều người sử dụng lịch Gregorian tin. Năm 2000 bắt đầu ngày 1 tháng 1, năm 2000.
Giải thích dài
Lý do tại sao thiên niên kỷ thứ 3, còn được gọi là thế kỷ 21, bắt đầu vào năm 2001 là bởi vì không có năm 0, tức là không có AD năm 0, cũng không có một năm 0 BC. Năm trước AD năm 1 được định nghĩa là năm 1 BC, do đó bỏ qua năm 0. (Xem bên dưới ). Do đó, tháng 1, năm 1, được định nghĩa là sự bắt đầu của thế kỷ thứ 1 và sự bắt đầu của thiên niên kỷ 1.
Bởi vì một thiên niên kỷ là 1000 năm, thiên niên kỷ đầu tiên kết thúc với năm 1000. Tiếp theo (2) Thiên niên kỷ bắt đầu 1000 năm sau khi người đầu tiên, đó là trong năm 1 + 1000 = 1001. Và một trong những thứ 3 bắt đầu 1000 năm chậm nhất là thứ 2: 1001 + 1000 = 2001. Xem bảng dưới đây để biết thêm thông tin.
Về lễ mừng thiên niên kỉ mới vào năm 2000?
Chúng ta có thể ăn mừng cả hai năm, mặc dù có lẽ hầu hết mọi người sẽ nghĩ đầu năm 2000 là một lễ kỷ niệm lớn hơn đầu năm 2001. Vào đầu năm 2000, chúng ta mừng rằng đó là một số tròn đặc biệt, và vào lúc bắt đầu của năm 2001, chúng ta có thể ăn mừng một thế kỷ mới, một thiên niên kỷ mới, và rằng 2000 năm đã trôi qua kể từ năm 1 bắt đầu.
Tại sao không có năm 0?
Khi hệ thống hiện nay chúng ta sử dụng để đếm năm được phát minh bởi học giả Dionysius Exiguus trong thế kỷ thứ 6, và sau đó được công nhận ở toàn châu Âu, chữ số La Mã được sử dụng, mà không có một số không. Do đó 1 BC là năm trước công nguyên 1, không có năm 0 (năm nối tiếp: năm 3 trước Công nguyên, năm 2 BC, 1 BC, năm 1 sau Công nguyên, AD 2, AD 3, vv ...)
Trường hợp ngoại lệ - Lịch Khác
Có rất nhiều lịch khác trong việc sử dụng khác với Lịch Gregorian, ví dụ như người Do Thái, Hồi giáo, Phật giáo, mà bắt đầu đánh số năm cho kỷ nguyên ban đầu tại một thời điểm khác so với Julian / lịch Gregorian, và do đó họ không ăn mừng thiên niên kỷ thứ 3 cùng một lúc. Tuy nhiên, hầu hết trong số họ vẫn sử dụng lịch Gregorian cho dân dụng.
Ngày bắt đầu của thế kỷ
| Thế kỷ (thứ) | Ngày đầu tiên | Ngày cuối |
|---|---|---|
| 1 | 01 tháng 1 năm 1 | Ngày 31 tháng 12 năm 100 |
| 2 | 01 tháng 1 năm 101 | Ngày 31 tháng 12 năm 200 |
| 16 | 01 tháng một năm 1501 | 31 tháng mười hai năm 1600 |
| 17 | Ngày 01 tháng 1 năm 1601 | 31 Tháng Mười Hai 1700 |
| 18 | 01 tháng 1 năm 1701 | 31 tháng 12 năm 1800 |
| 19 | 01 tháng 1 năm 1801 | 31 tháng 12 năm 1900 |
| 20 | 01 tháng một năm 1901 | 31 tháng 12 năm 2000 |
| 21. | 01 tháng 1 năm 2001 | 31 Tháng 12 2100 |
| 22 | 01 tháng 1 năm 2101 | 31 tháng 12 năm 2200 |
Ngày bắt đầu của thiên niên kỉ
| Thiên niên kỷ (thứ) | Ngày đầu tiên | Ngày cuối |
|---|---|---|
| 1 | 01 tháng 1 1 | 31 Tháng Mười Hai 1000 |
| 2 | 01 tháng 1 năm 1001 | 31 tháng 12 năm 2000 |
| 3 | 01 tháng 1 năm 2001 | 31 Tháng Mười Hai 3000 |
| 4 ... | 01 tháng 1 3001 | 31 Tháng Mười Hai 4000 |
Theo timeanddate.com
NewVnNews
NewVnNews - “Chính phủ Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam” đã từng nộp đơn gia nhập Liên Hiệp Quốc (LHQ) và đơn gia nhập đã được đem ra thảo luận vào đầu tháng 8, 1975. Một sự kiện chính trị ít người để ý.
Thật ra, “Chính phủ Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam” không tự động làm việc đó mà chỉ là chủ trương của đảng CSVN.
Với CSVN, việc đưa hai miền CS Việt Nam cùng tham gia vào LHQ chỉ là một chiến thuật đối ngoại về mặt nhà nước, nhằm “hợp thức hóa” việc cưỡng chiếm miền Nam và gia tăng áp lực buộc Hoa Kỳ phải viện trợ để “tái thiết Việt Nam”.
Cả nước vẫn do một đảng CSVN (ngày đó còn gọi là đảng Lao Động) nắm quyền điều hành. Tất cả các bộ phận khác, kể cả cơ quan gọi là “Chính phủ Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam” cũng chỉ được lập ra để thi hành một chính sách có tính giai đoạn của Bộ Chính Trị đảng Lao Động Việt Nam tại Hà Nội.
Thời điểm đó, Mao Trạch Đông ủng hộ, mặc dù sự rạn nứt giữa CSVN và Trung Cộng đã sâu sắc Mao vẫn ủng hộ CSVN trong chủ trương hai nước CS Việt Nam cùng gia nhập LHQ.
Mao biết khuynh hướng thân Liên Xô đang chế ngự trong bộ máy lãnh đạo CSVN, nhưng vẫn còn nuôi chút hy vọng lãnh đạo CSVN tại miền Nam hay gốc miền Nam sẽ có một khuynh hướng khác. Những ve vãn của Mao đối với MTDTGPMNVN qua những buổi tiếp xúc long trọng dành cho Nguyễn Hữu Thọ, Nguyễn Thị Bình cho thấy ý định “còn nước còn tát” của y.
Bắt được ý định đó của Mao, Hoa Kỳ đưa ra một “giải pháp trọn gói” tức cả bốn nước Châu Á gồm Bắc Hàn, Nam Hàn, Bắc Việt, Nam Việt cùng vào LHQ.
Mao không chấp nhận “giải pháp trọn gói” này vì mất nhiều hơn được. Vào thời gian đó, sức khỏe Mao yếu dần nhưng đã đóng vai trò quyết định trong “giải pháp trọn gói” của Mỹ.
Mao và lãnh đạo Trung Quốc khi ủng hộ chủ trương hai Việt Nam không phải phát xuất từ lòng thương xót Việt Nam Cộng Hòa hay người dân miền Nam mà chỉ muốn tiếp tục chi phối chính trị Việt Nam qua vai trò của “Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam”.
Tuy nhiên để trả giá cho chính sách đó bằng việc chấp nhận Nam Hàn vào LHQ, Mao cho rằng không tương xứng. Ảnh hưởng được gì từ “Chính phủ Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam” chưa thấy nhưng sẽ bị bao vây chặt hơn và đe dọa mạnh hơn hơn khi Nam Hàn trở thành hội viên chính thức của LHQ. Ngoài ra, Mao cũng lo Bắc Hàn sẽ giảm dần sự lệ thuộc vào Trung Quốc.
Vì Mao không đồng ý “giải pháp trọn gói” tức cả bốn nước cùng vào LHQ nên chiều ngày 11 tháng 8, 1975, Đại sứ Hoa Kỳ tại Liên Hiệp Quốc Daniel P. Moynihan Mỹ hai lần đưa tay phủ quyết đơn xin gia nhập Liên Hiệp Quốc của cả Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa lẫn Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam.
Nhắc lại sự kiện lịch sử này để thấy dã tâm của Trung Quốc qua nhiều thế hệ lãnh đạo vẫn là khống chế Việt Nam bằng mọi cách.
Tập Cận Bình hãnh diện là truyền nhân của Mao, do đó, đọc lại Mao để có thể đo lường những bước đi tới của họ Tập. Ngoài các đặc điểm kế thừa từ Mao, Tập Cận Bình còn đi xa hơn khi tham vọng bành trướng cả Á Châu.
Dân chủ hóa Việt Nam là phương cách “thoát Trung” đúng đắn và phù hợp với sự phát triển văn minh thời đại nhất.
![]() |
| (Ảnh: bản chụp báo New York Times tường thuật diễn biến tại Liên Hiệp Quốc ngày 11 tháng 8, 1975) |
Thật ra, “Chính phủ Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam” không tự động làm việc đó mà chỉ là chủ trương của đảng CSVN.
Với CSVN, việc đưa hai miền CS Việt Nam cùng tham gia vào LHQ chỉ là một chiến thuật đối ngoại về mặt nhà nước, nhằm “hợp thức hóa” việc cưỡng chiếm miền Nam và gia tăng áp lực buộc Hoa Kỳ phải viện trợ để “tái thiết Việt Nam”.
Cả nước vẫn do một đảng CSVN (ngày đó còn gọi là đảng Lao Động) nắm quyền điều hành. Tất cả các bộ phận khác, kể cả cơ quan gọi là “Chính phủ Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam” cũng chỉ được lập ra để thi hành một chính sách có tính giai đoạn của Bộ Chính Trị đảng Lao Động Việt Nam tại Hà Nội.
Thời điểm đó, Mao Trạch Đông ủng hộ, mặc dù sự rạn nứt giữa CSVN và Trung Cộng đã sâu sắc Mao vẫn ủng hộ CSVN trong chủ trương hai nước CS Việt Nam cùng gia nhập LHQ.
Mao biết khuynh hướng thân Liên Xô đang chế ngự trong bộ máy lãnh đạo CSVN, nhưng vẫn còn nuôi chút hy vọng lãnh đạo CSVN tại miền Nam hay gốc miền Nam sẽ có một khuynh hướng khác. Những ve vãn của Mao đối với MTDTGPMNVN qua những buổi tiếp xúc long trọng dành cho Nguyễn Hữu Thọ, Nguyễn Thị Bình cho thấy ý định “còn nước còn tát” của y.
Bắt được ý định đó của Mao, Hoa Kỳ đưa ra một “giải pháp trọn gói” tức cả bốn nước Châu Á gồm Bắc Hàn, Nam Hàn, Bắc Việt, Nam Việt cùng vào LHQ.
Mao không chấp nhận “giải pháp trọn gói” này vì mất nhiều hơn được. Vào thời gian đó, sức khỏe Mao yếu dần nhưng đã đóng vai trò quyết định trong “giải pháp trọn gói” của Mỹ.
Mao và lãnh đạo Trung Quốc khi ủng hộ chủ trương hai Việt Nam không phải phát xuất từ lòng thương xót Việt Nam Cộng Hòa hay người dân miền Nam mà chỉ muốn tiếp tục chi phối chính trị Việt Nam qua vai trò của “Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam”.
Tuy nhiên để trả giá cho chính sách đó bằng việc chấp nhận Nam Hàn vào LHQ, Mao cho rằng không tương xứng. Ảnh hưởng được gì từ “Chính phủ Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam” chưa thấy nhưng sẽ bị bao vây chặt hơn và đe dọa mạnh hơn hơn khi Nam Hàn trở thành hội viên chính thức của LHQ. Ngoài ra, Mao cũng lo Bắc Hàn sẽ giảm dần sự lệ thuộc vào Trung Quốc.
Vì Mao không đồng ý “giải pháp trọn gói” tức cả bốn nước cùng vào LHQ nên chiều ngày 11 tháng 8, 1975, Đại sứ Hoa Kỳ tại Liên Hiệp Quốc Daniel P. Moynihan Mỹ hai lần đưa tay phủ quyết đơn xin gia nhập Liên Hiệp Quốc của cả Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa lẫn Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam.
Nhắc lại sự kiện lịch sử này để thấy dã tâm của Trung Quốc qua nhiều thế hệ lãnh đạo vẫn là khống chế Việt Nam bằng mọi cách.
Tập Cận Bình hãnh diện là truyền nhân của Mao, do đó, đọc lại Mao để có thể đo lường những bước đi tới của họ Tập. Ngoài các đặc điểm kế thừa từ Mao, Tập Cận Bình còn đi xa hơn khi tham vọng bành trướng cả Á Châu.
Dân chủ hóa Việt Nam là phương cách “thoát Trung” đúng đắn và phù hợp với sự phát triển văn minh thời đại nhất.
Trần Trung Đạo
NewVnNews
NewVnNews - Thảm hoạ môi trường Minamata nằm phía tây đảo Kyushu, cực nam Nhật Bản, là một điển hình thế giới về nhiều phương diện. Minamata từ một địa danh trở thành tên gọi của một chứng bệnh do nhiễm độc thuỷ ngân từ chất thải hoá học xả vào nguồn nước.
Minamata là một thảm hoạ môi trường kéo dài hơn 30 năm , từ năm 1932 – 1968 , nhưng hệ quả bi đát của nó vẫn tồn tại đến tận ngày nay và là một trong bốn chứng bệnh lớn nhất tại Nhật do ô nhiễm chất thải hoá học gây ra.
Minamata cũng là một án lệ môi trường điển hình với nhiều vụ kiện kéo dài từ năm 1959 tới tận hôm nay.
Minamata cũng là một điển hình cho thấy vai trò của chính quyền khi chọn lựa giữa quyền lợi cộng đồng và quyền lợi của nhóm thiểu số. Ngay từ năm 1908, khi tập đoàn Chisso mở nhà máy ở Minamata nước thải đã xả thẳng xuống vịnh và vùng biển quanh ngôi làng 10.000 dân này. Thiệt hại cho ngành ngư nghiệp là không thể tránh khỏi và hợp tác xã ngư nghiệp Minamata đã hai lần đòi Chisso bồi thường trước khi căn bệnh nhiễm độc thuỷ ngân bùng phát .
Sau các thương lượng trực tiếp vào năm 1926, Chisso đồng ý trả cho hợp tác xã khoản “tiền thông cảm” là 1.500 yen - khoảng 704 USD theo tỷ giá đương thời . Dùng thuật ngữ “tiền thông cảm” là cách Chisso tránh né nhận trách nhiệm gây thiệt hại và tập đoàn này tìm cách ngăn ngừa những khoản bồi hoàn về sau bằng cách thêm vào thoả thuận với hợp tác xã một điều khoản là không bao giờ kiện nữa . Kiểu chối bỏ trách nhiệm và những điều kiện ràng buộc của Chisso cứ tái diễn suốt bao lần đàm phán với ngư dân Minamata trong khi chất thải độc hại vẫn không ngừng xả xuống biển.
Đến năm 1943, Chisso ký kết với ngư dân một thoả thuận khác chấp nhận thông cảm 152.500 yen cho các thiệt hại ngư nghiệp trong quá khứ và tương lai . Tuy nhiên, tính chất bất bình đẳng của thoả thuận này lộ rõ trong các điều khoản buộc ngư dân địa phương phải nhìn nhận tầm quan trọng của Chisso đối với sự thịnh vượng của Minamata và nhu cầu hợp tác để không gây phương hại cho các hoạt động của Chisso .
Năm 1956 là năm cư dân địa phương bắt đầu biết đến hội chứng bệnh lạ ở Minamata. Không còn là một ngôi làng nữa, Minamata giờ đây đã là thành phố của một công ty với 50.000 dân. Nhà máy Chisso tuyển dụng tới 60% lực lượng lao động của Minamata. Hàng loạt người dân lâu nay ăn cá nhiễm độc thuỷ ngân bỗng phát sinh những dấu hiệu kỳ lạ. Bệnh nhẹ thì á khẩu, đi đứng khó khăn, co giật. Những trường hợp cực độ có biểu hiện phát điên, tê liệt, hôn mê và chết sau vài tuần phát bệnh.
Đến lúc này thì lượng tôm cá đánh bắt ở Minamata đã sụt giảm chỉ còn không tới 10% so với trước. Chính quyền tỉnh Kumamoto cố gắng khống chế căn bệnh lạ lây lan bằng cách cấm bán hải sản đánh bắt từ vịnh Minamata nhưng không hề ban bố lịnh cấm đánh bắt. Ngư dân đánh bắt được cá nhưng không thể bán và không hề có chính sách hỗ trợ tài chính nào bồi hoàn cho họ.
Tháng 9 năm 1958, hợp tác xã ngư nghiệp Minamata kiến nghị chính quyền cấp tỉnh hãy cấm đánh bắt cá toàn diện để ngư dân được hưởng quyền bồi thường thích đáng theo luật Ngư nghiệp và bộ luật Vệ sinh thực phẩm đương thời của Nhật Bản. Chính quyền không hề có phản ứng gì khác hơn là khuyên ngư dân đừng ăn tôm cá do họ đánh bắt từ vịnh Minamata. Không còn nguồn thu nhập nào khác, nhiều ngư dân không còn lựa chọn nào ngoại trừ ăn những thứ mà họ đánh bắt được dưới biển.
Thực tế, suốt lịch sử thảm hoạ Minamata, việc đánh bắt cá ở Minamata chưa bao giờ bị cấm về mặt pháp lý. Bất kể lệnh cấm bán cá ô nhiễm, mối ngờ vực về tính an toàn của tôm cá khu vực Minamata vẫn lan tràn trong dân chúng địa phương và đến tháng 6 năm 1959 thì nhiều doanh nghiệp buôn bán hải sản phải khánh tận vì không ai mua hải sản nữa. Tuyệt vọng vì chính quyền làm ngơ, hợp tác xã buộc phải điều đình trực tiếp với Chisso.
Ngày 6 tháng 8 , 400 ngư dân hợp tác xã kéo tới nhà máy và gặp giám đốc Eiichi Nishida trong bầu không khí thù nghịch. Ngư dân đòi Chisso phải làm sạch vịnh Minamata, lắp đặt các hệ thống xử lý nước thải và bồi thường 100 triệu yen , khoảng 278.000 USD . Đáp lại, giám đốc Nishida đề nghị một khoản “tiền thông cảm khẩn cấp” 500.000 yên cùng một lời hứa sẽ hội ý với tổng văn phòng tập đoàn Chisso ở Tokyo .
Sáu ngày sau, ngư dân lại kéo đến nhà máy tiếp tục đàm phán. Hai bên không đạt được thoả thuận nào ngoại trừ một chuyến khảo sát phối hợp về thực tế tình trạng ngư nghiệp ở Minamata để làm cơ sở đàm phán tiếp vào ngày 17 tháng 8. Sau chuyến khảo sát này, Chisso thừa nhận không còn khả năng đánh cá ở một số khu vực và đưa ra đề nghị cuối cùng 13 triệu yen - 36.100 USD .
Đề nghị bủn xỉn ấy khiến ngư dân phẫn nộ và nổi loạn. Lực lượng cảnh sát chống bạo loạn của thành phố phải ra tay can thiệp. Nishida và các nhân viên công ty thực tế trở thành con tin ngay trong nhà máy. Chỉ đến khi thị trưởng Todomu Nakamura đồng ý làm trung gian hoà giải giữa hai bên tranh chấp thì ngư dân mới rời khỏi khu vực Chisso.
Hội đồng hoà giải do thị trưởng Nakamura lập ra vào ngày 26 tháng 8 lại đưa ra phán quyết rất thiên vị Chisso. Theo đó, công ty này sẽ trả 20 triệu yen - 55.600 USD trực tiếp cho hợp tác xã và lập một ngân quỹ 15 triệu yen - 41.700 USD để phục hồi ngư nghiệp. Phán quyết này lại đi kèm với một tối hậu thư rằng nếu một trong hai bên bác bỏ đề nghị này thì hội đồng hoà giải sẽ chấm dứt ngay các hoạt động trung gian.
Ba ngày sau, phía hợp tác xã phản hồi : Nhằm kết thúc nỗi lo ngại của công dân, chúng tôi nuốt lệ chấp nhận . Minamata là căn bệnh gì ? Minamata là căn bệnh gây ra khi ăn một lượng lớn cá và sò trong vùng biển bị ô nhiễm nặng vì methyl thủy ngân thải ra vịnh Minamata. Đây không phải là căn bệnh lây nhiễm, hoặc bị di truyền về sau.
Lần đầu tiên căn bệnh này được phát hiện tại Minamata thuộc tỉnh Kumamoto và năm 1956, và năm 1968, chính phủ Nhật bản đã chính thức tuyên bố, căn bệnh này cho công ty Chisso gây ra vì đã làm ô nhiễm môi trường. Khi methyl thủy ngân xâm nhâp vào cơ thể, chúng sẽ tấn công vào cơ quan thần kinh trung ương. Các triệu chứng là chân và tay bị liệt hoặc run lẩy bẩy, mệt mỏi, ù tai, mắt mờ, điếc, nói lắp bắp…các hành động của cơ thể trở nên yếu ớt. Những bệnh nhân đầu tiên ở Minamata đã bị điên, bất tỉnh và chết một tháng sau khi bị mắc bệnh. Có những bệnh nhân bị mắc bệnh Minamata kinh niên, như là đau đầu, mệt mỏi thường xuyên, mất khả năng vị giác và khứu giác, hay quên…Những điều này biểu lộ không rõ nét nhưng làm cuộc sống của họ trở nên khó khăn hơn. Nhiều người còn bị bệnh Minamata bẩm sinh khi mẹ của họ đã ăn cá bị ô nhiễm methyl thủy ngân khi đang mang thai họ, khiến cho họ sinh ra đã là người tàn tật.
Chưa một giải pháp nào có hiệu quả để chữa căn bệnh Minamata, nhưng các bác sĩ đã cố gắng làm giảm bớt những triệu chứng trên bằng những biện pháp tập luyện, trị liệu. Ngoài những tổn hại về mặt cơ thể con người, còn có những tổn hại về mặt xã hội nữa, chắc hạn có những sự phân biệt đối xử với những người mắc căn bệnh này.
Thủy ngân hữu cơ là gì ?
Con người đã có một lịch sử lâu dài với thủy ngân. Ở Nhật bản, thủy ngân được sử dụng cùng với vàng để dát lên bức tượng Phật khổng lồ ở Nara, trong thời Edo, thủy ngân được sử dụng để chế thuốc và bột bôi mặt. Tại Nhật, những nơi có tên là Niu chỉ đây là những khu vực mà thủy ngân đã được sản xuất và sử dụng .
Thủy ngân được phân ra làm hai loại: Thủy ngân hữu cơ và vô cơ. Thủy ngân kim loại, là loại thủy ngân vô cơ, được dùng trong nhiều sản phẩm quen thuộc như đèn huỳnh quang, ác qui, nhiệt kế . Methyl thủy ngân gây nên căn bệnh Minamata là một loại của thủy ngân hữu cơ. Đây lào một loại bột trắng và có mùi giống như mùi lưu huỳnh bốc lên từ các suối nước nóng. Methyl thủy ngân dễ dàng được dạ dày và ruột hấp thụ và chuyển theo đường máu tới não, gan, thận và thậm chí nhau thai. Methyl thủy ngân cực kì độc và gây nên những hậu quả khôn lường.
Có bao nhiêu người đã mắc bệnh Minamata ?
Cho đến ngày 30/4/1997, số người trong hai tỉnh Kumamoto và Kagoshima chứng nhận là đã mắc bệnh Minamata lên tới 17 ngàn người. Trong đó có 2.265 (trong đó 1.484 người đã qua đời cho đến 31/1/2003) đã được chính phủ công nhận. 10.625 người sau khi được chứng nhận là bệnh nhân Minamata đã được Chính phủ bồi thường. Như vậy, theo Chính phủ Nhật thì có tổng cộng 12.890 người đã mắc bệnh cho đến nay. Tuy nhiên có một số đã chết trước khi căn bệnh này được chính thức khám phá, và nhiều người chưa kịp nộp đơn xin chứng nhận thì đã chết. Nhiều người thì không nộp đơn vì nhiều lý do, chính vì vậy mà không thể có được một số liệu chính xác về những bệnh nhân Minamata. Căn bệnh kiểu Minamata đã không chỉ xảy ra ở riêng vùng Minamata. Năm 1965 bệnh Minamata đã bùng phát dọc theo con sông Agano thuộc tỉnh Nigata, do công ty Showa Denko thải thủy ngân xuống. Những căn bệnh tương tự do bị nhiễm độc thủy ngân cũng đã xảy ra ở Trung Quốc và Canada. Trong những năm gần đây, sông và hồ vùng Amazon và Tanzania bị nhiễm thủy ngân cũng đã gây ra nhiều ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe con người.
Công ty Chisso là công ty gì ?
Chisso đầu tiên là một công ty nhà máy thủy điện vào thời Meiji (1908). Sau đó, công ty này xây dựng một nhà máy sản xuất các bua tại Minamata. Sau đó công ty này có một thời gian dài sản xuất phân hóa học, và là một trong những công ty hóa chất hàng đầu của Nhật Bản . Khi công ty Chisso phát triển quá trình sản xuất của mình tại Minamata và Minamata đã trở thành một trong những thành phố công nghiệp hàng đầu ở tỉnh Kumamoto, nhưng quá trình ô nhiễm do công ty Chisso gây nên thì ngày càng tăng. Một giám đốc của công ty Chisso đã từng là Thị trưởng của thành phố Minamata. Công ty Chisso càng có ảnh hưởng tới khu vực và người dân càng bị phụ thuộc vào sự phát triển của Chisso . Ngoài các loại phân hóa học, Chisso còn sản xuất axit acetic, vinyl chloride và các loại chất dẻo. Chisso đã là một trong những công ty góp phần quan trọng vào sự tăng trưởng nhanh chóng của Nhật bản sau chiến tranh thế giới lần 2 . Từ thời Taisho (1912-1926), nước biển bị ô nhiễm do nước thải của Chisso đổ ra đã gây nên một số vấn đề. Tuy nhiên, từ năm 1932-1968, công ty Chisso tiếp tục sử dụng thủy ngân hữu cơ là chất xúc tác để sản xuất acetaldehyde, axit acetic và các chất dẻo. Tất nhiên trong quá trình sản xuất, methyl thủy ngân đã được sinh ra và cứ được đổ thẳng xuống biển mà không qua bất kì một sự xử lý nào . Thậm chí sau khi công ty Chisso biết rõ chính những nước thải của công ty họ gây nên căn bệnh Minamata, nhưng công ty vẫn không ngừng quá trình sản xuất của mình. Trong lần xét xử đầu tiên về căn bệnh Minamata, thái độ thờ ơ của Chisso đã bị chỉ trích kịch liệt .
Điều gì đã xảy ra với vịnh Minamata ?
Sự ô nhiễm đã làm nồng độ thủy ngân có trong nước biển của vịnh Minamata vượt quá 25 ppm. Lòng vịnh Minamata đã được nạo vét suốt 14 năm và tiêu phí tới 48.5 tỉ yên, những chi phí này do tỉnh Kumamoto đảm nhiệm. Sau khi được cải tạo, chất lượng nước trong vịnh Minamata đã trở thành một trong những nơi đứng đầu trong tỉnh Kumamoto về độ trong và độ sạch, vì vậy mọi người ngày nay có thể bơi lội hoặc chơi các môn thể thao dưới nước một cách an toàn ở đó. Nhằm để ngăn chặn những con cá đã bị nhiễm độc, và bảo vệ người dân ở trong tỉnh, tỉnh Kumamoto đã thả lưới ở cửa ra vào vịnh Minamata vào năm 1974 và vận động việc đánh cá nằm trong vịnh. Công ty Chisso đã mua lại số cá này và đem đi tiêu hủy. Từ khi Chisso ngừng việc sản xuất Acetaldehyde, nồng độ thủy ngân trong cá và sò trong vịnh Minamata càng ngày càng giảm xuống. Tháng 10/1994, tỉnh Kumamoto đã khẳng định lượng thủy ngân năm trong các loài cá tại vịnh Minamata đều nằm trong giới hạn tiêu chuẩn quốc gia là 0,4 ppm. Chính vì vậy vào tháng 6/1997, tỉnh Kumamoto đã tuyên bố Minamata trở lại an toàn và toàn bộ những tấm lưới trên được dỡ bỏ. Ngày nay, toàn bộ cá ở trong vịnh đều đảm bảo an toàn giống như những loài cá ở ngoài vịnh. Tuy những tấm lưới trên đã được dỡ bỏ, nhưng những cuộc điều tra về nồng độ thủy ngân trong các loài cá và sò trong vịnh Minamata đều được tiến hành mỗi năm 2 lần và sẽ kéo dài trong suốt 3 năm tới nữa. Các số liệu về Minamata là bài học rút ra cho không chỉ người Nhật và còn cho nhiều người dân trên thế giới nữa về việc môi trường bị tàn phá và sức khỏe con người bị ảnh hưởng trên diện rộng. Chính vì vậy mà căn bệnh Minamata cần được quan tâm nghiên cứu nhiều hơn nữa .
Những bệnh nhân Minamata đã yêu cầu những gì ?
Đã nhiều năm trôi qua kể từ khi căn bệnh Minamata bùng phát. Với các bệnh nhân Minamata, 40 năm qua là quãng thời gian của sự khó khăn và đấu tranh. Trong những phiên tòa và trong những cuộc thương lượng, điều mà các bệnh nhân yêu cầu với chính quyền và công ty Chisso là sự tạ lỗi chân thành từ đáy long của họ vì họ đã gây ra căn bệnh Minamata và thờ ơ trong việc giúp đỡ các bệnh nhân. Họ yêu cầu điều kiện sức khỏe của các bệnh nhân phải được quan tâm và hỗ trợ nhanh chóng. Chưa có giải pháp nào chữa hoàn toàn được căn bệnh Minamata. Phần lớn các bệnh nhân hang ngày phải đến bệnh viện để chữa trị và phục hồi. Hiện nay khi các bệnh nhân trở nên già hơn, số người phải nằm tại viên hoặc cần sự trợ giúp tại gia đình cũng tăng lên. Trong xã hội đang già đi của Nhật bản, những bệnh nhân này muốn được sống yên ổn cùng mọi người trong xã hội mà không phải bị lo lắng gì, là những mối quan tâm của các bệnh nhân tại Minamata. Những bệnh nhân mà có thể gi chuyển được, vẫn cố gắng làm việc. Mặc dù công việc nhà nông hoặc đánh bắt cá rất nặng nhọc, nhưng một số bệnh nhân vẫn có thể hỗ trợ công việc này. Một số bệnh nhân thì làm việc cho các công ty, và họ phải học cách sống cùng với căn bệnh này. Tuy nhiên vẫn có một số định kiến và hiểu lầm về căn bệnh Minamata này vẫn còn tồn tại. Nhiều người đã phải dấu họ là bệnh nhân Minamata, thậm chí ngay với cả người than trong gia đình hoặc họ hang. Một số người thì cống hiến cho các hoạt động như kể về giai đoạn trải qua căn bệnh của mình và những bài học cho các thế hệ trong tương lai, hy vọng rằng căn bệnh Minamata sẽ không được phép xảy ra ở bất kì nơi nào nữa .
Hiện nay công ty Chisso ra sao ?
Công ty Chisso có trụ sở ở Tokyo và có hai nhà máy khác ở Chiba và Okkayama, ngoài nhà máy ở Minamata. Các sản phẩm chính của Chiso là pha lê lỏng, các chất bảo quản, các chất chống sấy khô, phân hóa học, nhựa thông nhân tạo, và một số sản phẩm khác nữa. Nhà máy ở Minamata có 554 người vào tháng 10/2002 và Chisso vẫn là một công ty quan trọng ở Minamata. Chisso đang có bổn phận phải chịu trách nhiệm bồi thường cho những thiệt hại gây nên căn bệnh Minamata. Trong những năm 1975 và về sau này, việc quản lý của Chisso gặp khó khăn chính vì vậy mà tỉnh Kumamoto cũng đã phải giúp đỡ công ty Chisso bồi thường thiệt hại từ vốn cho vay của tỉnh trong giai đoạn từ năm 1978 - 2000. Tổng cộng Chisso phải bồi thường số tiền là 260 tỉ yên, chính vì vậy Chính phủ Nhật cũng phải ra tay giúp Chisso trả dần số tiền trên từ tháng 2/2002 cho đến khi tự Chisso có thể trả được số tiền nợ trên . Chisso vẫn phải chịu trách nhiệm trong việc trả phí tổn điều trị cho bệnh nhân Minamata và những thiệt hại cho đời sống của họ.
Một điều quan trọng để chúng ta nhận biết ở đây là những sai lầm như Chisso đã mắc phải ở Minamata sẽ không thể được phép xảy ra ở bất kì nơi nào nữa .
Minamata là một thảm hoạ môi trường kéo dài hơn 30 năm , từ năm 1932 – 1968 , nhưng hệ quả bi đát của nó vẫn tồn tại đến tận ngày nay và là một trong bốn chứng bệnh lớn nhất tại Nhật do ô nhiễm chất thải hoá học gây ra.
Minamata cũng là một án lệ môi trường điển hình với nhiều vụ kiện kéo dài từ năm 1959 tới tận hôm nay.
Minamata cũng là một điển hình cho thấy vai trò của chính quyền khi chọn lựa giữa quyền lợi cộng đồng và quyền lợi của nhóm thiểu số. Ngay từ năm 1908, khi tập đoàn Chisso mở nhà máy ở Minamata nước thải đã xả thẳng xuống vịnh và vùng biển quanh ngôi làng 10.000 dân này. Thiệt hại cho ngành ngư nghiệp là không thể tránh khỏi và hợp tác xã ngư nghiệp Minamata đã hai lần đòi Chisso bồi thường trước khi căn bệnh nhiễm độc thuỷ ngân bùng phát .
Sau các thương lượng trực tiếp vào năm 1926, Chisso đồng ý trả cho hợp tác xã khoản “tiền thông cảm” là 1.500 yen - khoảng 704 USD theo tỷ giá đương thời . Dùng thuật ngữ “tiền thông cảm” là cách Chisso tránh né nhận trách nhiệm gây thiệt hại và tập đoàn này tìm cách ngăn ngừa những khoản bồi hoàn về sau bằng cách thêm vào thoả thuận với hợp tác xã một điều khoản là không bao giờ kiện nữa . Kiểu chối bỏ trách nhiệm và những điều kiện ràng buộc của Chisso cứ tái diễn suốt bao lần đàm phán với ngư dân Minamata trong khi chất thải độc hại vẫn không ngừng xả xuống biển.
Đến năm 1943, Chisso ký kết với ngư dân một thoả thuận khác chấp nhận thông cảm 152.500 yen cho các thiệt hại ngư nghiệp trong quá khứ và tương lai . Tuy nhiên, tính chất bất bình đẳng của thoả thuận này lộ rõ trong các điều khoản buộc ngư dân địa phương phải nhìn nhận tầm quan trọng của Chisso đối với sự thịnh vượng của Minamata và nhu cầu hợp tác để không gây phương hại cho các hoạt động của Chisso .
Năm 1956 là năm cư dân địa phương bắt đầu biết đến hội chứng bệnh lạ ở Minamata. Không còn là một ngôi làng nữa, Minamata giờ đây đã là thành phố của một công ty với 50.000 dân. Nhà máy Chisso tuyển dụng tới 60% lực lượng lao động của Minamata. Hàng loạt người dân lâu nay ăn cá nhiễm độc thuỷ ngân bỗng phát sinh những dấu hiệu kỳ lạ. Bệnh nhẹ thì á khẩu, đi đứng khó khăn, co giật. Những trường hợp cực độ có biểu hiện phát điên, tê liệt, hôn mê và chết sau vài tuần phát bệnh.
Đến lúc này thì lượng tôm cá đánh bắt ở Minamata đã sụt giảm chỉ còn không tới 10% so với trước. Chính quyền tỉnh Kumamoto cố gắng khống chế căn bệnh lạ lây lan bằng cách cấm bán hải sản đánh bắt từ vịnh Minamata nhưng không hề ban bố lịnh cấm đánh bắt. Ngư dân đánh bắt được cá nhưng không thể bán và không hề có chính sách hỗ trợ tài chính nào bồi hoàn cho họ.
Tháng 9 năm 1958, hợp tác xã ngư nghiệp Minamata kiến nghị chính quyền cấp tỉnh hãy cấm đánh bắt cá toàn diện để ngư dân được hưởng quyền bồi thường thích đáng theo luật Ngư nghiệp và bộ luật Vệ sinh thực phẩm đương thời của Nhật Bản. Chính quyền không hề có phản ứng gì khác hơn là khuyên ngư dân đừng ăn tôm cá do họ đánh bắt từ vịnh Minamata. Không còn nguồn thu nhập nào khác, nhiều ngư dân không còn lựa chọn nào ngoại trừ ăn những thứ mà họ đánh bắt được dưới biển.
Thực tế, suốt lịch sử thảm hoạ Minamata, việc đánh bắt cá ở Minamata chưa bao giờ bị cấm về mặt pháp lý. Bất kể lệnh cấm bán cá ô nhiễm, mối ngờ vực về tính an toàn của tôm cá khu vực Minamata vẫn lan tràn trong dân chúng địa phương và đến tháng 6 năm 1959 thì nhiều doanh nghiệp buôn bán hải sản phải khánh tận vì không ai mua hải sản nữa. Tuyệt vọng vì chính quyền làm ngơ, hợp tác xã buộc phải điều đình trực tiếp với Chisso.
Ngày 6 tháng 8 , 400 ngư dân hợp tác xã kéo tới nhà máy và gặp giám đốc Eiichi Nishida trong bầu không khí thù nghịch. Ngư dân đòi Chisso phải làm sạch vịnh Minamata, lắp đặt các hệ thống xử lý nước thải và bồi thường 100 triệu yen , khoảng 278.000 USD . Đáp lại, giám đốc Nishida đề nghị một khoản “tiền thông cảm khẩn cấp” 500.000 yên cùng một lời hứa sẽ hội ý với tổng văn phòng tập đoàn Chisso ở Tokyo .
Sáu ngày sau, ngư dân lại kéo đến nhà máy tiếp tục đàm phán. Hai bên không đạt được thoả thuận nào ngoại trừ một chuyến khảo sát phối hợp về thực tế tình trạng ngư nghiệp ở Minamata để làm cơ sở đàm phán tiếp vào ngày 17 tháng 8. Sau chuyến khảo sát này, Chisso thừa nhận không còn khả năng đánh cá ở một số khu vực và đưa ra đề nghị cuối cùng 13 triệu yen - 36.100 USD .
Đề nghị bủn xỉn ấy khiến ngư dân phẫn nộ và nổi loạn. Lực lượng cảnh sát chống bạo loạn của thành phố phải ra tay can thiệp. Nishida và các nhân viên công ty thực tế trở thành con tin ngay trong nhà máy. Chỉ đến khi thị trưởng Todomu Nakamura đồng ý làm trung gian hoà giải giữa hai bên tranh chấp thì ngư dân mới rời khỏi khu vực Chisso.
Hội đồng hoà giải do thị trưởng Nakamura lập ra vào ngày 26 tháng 8 lại đưa ra phán quyết rất thiên vị Chisso. Theo đó, công ty này sẽ trả 20 triệu yen - 55.600 USD trực tiếp cho hợp tác xã và lập một ngân quỹ 15 triệu yen - 41.700 USD để phục hồi ngư nghiệp. Phán quyết này lại đi kèm với một tối hậu thư rằng nếu một trong hai bên bác bỏ đề nghị này thì hội đồng hoà giải sẽ chấm dứt ngay các hoạt động trung gian.
Ba ngày sau, phía hợp tác xã phản hồi : Nhằm kết thúc nỗi lo ngại của công dân, chúng tôi nuốt lệ chấp nhận . Minamata là căn bệnh gì ? Minamata là căn bệnh gây ra khi ăn một lượng lớn cá và sò trong vùng biển bị ô nhiễm nặng vì methyl thủy ngân thải ra vịnh Minamata. Đây không phải là căn bệnh lây nhiễm, hoặc bị di truyền về sau.
Lần đầu tiên căn bệnh này được phát hiện tại Minamata thuộc tỉnh Kumamoto và năm 1956, và năm 1968, chính phủ Nhật bản đã chính thức tuyên bố, căn bệnh này cho công ty Chisso gây ra vì đã làm ô nhiễm môi trường. Khi methyl thủy ngân xâm nhâp vào cơ thể, chúng sẽ tấn công vào cơ quan thần kinh trung ương. Các triệu chứng là chân và tay bị liệt hoặc run lẩy bẩy, mệt mỏi, ù tai, mắt mờ, điếc, nói lắp bắp…các hành động của cơ thể trở nên yếu ớt. Những bệnh nhân đầu tiên ở Minamata đã bị điên, bất tỉnh và chết một tháng sau khi bị mắc bệnh. Có những bệnh nhân bị mắc bệnh Minamata kinh niên, như là đau đầu, mệt mỏi thường xuyên, mất khả năng vị giác và khứu giác, hay quên…Những điều này biểu lộ không rõ nét nhưng làm cuộc sống của họ trở nên khó khăn hơn. Nhiều người còn bị bệnh Minamata bẩm sinh khi mẹ của họ đã ăn cá bị ô nhiễm methyl thủy ngân khi đang mang thai họ, khiến cho họ sinh ra đã là người tàn tật.
Chưa một giải pháp nào có hiệu quả để chữa căn bệnh Minamata, nhưng các bác sĩ đã cố gắng làm giảm bớt những triệu chứng trên bằng những biện pháp tập luyện, trị liệu. Ngoài những tổn hại về mặt cơ thể con người, còn có những tổn hại về mặt xã hội nữa, chắc hạn có những sự phân biệt đối xử với những người mắc căn bệnh này.
Thủy ngân hữu cơ là gì ?
Con người đã có một lịch sử lâu dài với thủy ngân. Ở Nhật bản, thủy ngân được sử dụng cùng với vàng để dát lên bức tượng Phật khổng lồ ở Nara, trong thời Edo, thủy ngân được sử dụng để chế thuốc và bột bôi mặt. Tại Nhật, những nơi có tên là Niu chỉ đây là những khu vực mà thủy ngân đã được sản xuất và sử dụng .
Thủy ngân được phân ra làm hai loại: Thủy ngân hữu cơ và vô cơ. Thủy ngân kim loại, là loại thủy ngân vô cơ, được dùng trong nhiều sản phẩm quen thuộc như đèn huỳnh quang, ác qui, nhiệt kế . Methyl thủy ngân gây nên căn bệnh Minamata là một loại của thủy ngân hữu cơ. Đây lào một loại bột trắng và có mùi giống như mùi lưu huỳnh bốc lên từ các suối nước nóng. Methyl thủy ngân dễ dàng được dạ dày và ruột hấp thụ và chuyển theo đường máu tới não, gan, thận và thậm chí nhau thai. Methyl thủy ngân cực kì độc và gây nên những hậu quả khôn lường.
Có bao nhiêu người đã mắc bệnh Minamata ?
Cho đến ngày 30/4/1997, số người trong hai tỉnh Kumamoto và Kagoshima chứng nhận là đã mắc bệnh Minamata lên tới 17 ngàn người. Trong đó có 2.265 (trong đó 1.484 người đã qua đời cho đến 31/1/2003) đã được chính phủ công nhận. 10.625 người sau khi được chứng nhận là bệnh nhân Minamata đã được Chính phủ bồi thường. Như vậy, theo Chính phủ Nhật thì có tổng cộng 12.890 người đã mắc bệnh cho đến nay. Tuy nhiên có một số đã chết trước khi căn bệnh này được chính thức khám phá, và nhiều người chưa kịp nộp đơn xin chứng nhận thì đã chết. Nhiều người thì không nộp đơn vì nhiều lý do, chính vì vậy mà không thể có được một số liệu chính xác về những bệnh nhân Minamata. Căn bệnh kiểu Minamata đã không chỉ xảy ra ở riêng vùng Minamata. Năm 1965 bệnh Minamata đã bùng phát dọc theo con sông Agano thuộc tỉnh Nigata, do công ty Showa Denko thải thủy ngân xuống. Những căn bệnh tương tự do bị nhiễm độc thủy ngân cũng đã xảy ra ở Trung Quốc và Canada. Trong những năm gần đây, sông và hồ vùng Amazon và Tanzania bị nhiễm thủy ngân cũng đã gây ra nhiều ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe con người.
Công ty Chisso là công ty gì ?
Chisso đầu tiên là một công ty nhà máy thủy điện vào thời Meiji (1908). Sau đó, công ty này xây dựng một nhà máy sản xuất các bua tại Minamata. Sau đó công ty này có một thời gian dài sản xuất phân hóa học, và là một trong những công ty hóa chất hàng đầu của Nhật Bản . Khi công ty Chisso phát triển quá trình sản xuất của mình tại Minamata và Minamata đã trở thành một trong những thành phố công nghiệp hàng đầu ở tỉnh Kumamoto, nhưng quá trình ô nhiễm do công ty Chisso gây nên thì ngày càng tăng. Một giám đốc của công ty Chisso đã từng là Thị trưởng của thành phố Minamata. Công ty Chisso càng có ảnh hưởng tới khu vực và người dân càng bị phụ thuộc vào sự phát triển của Chisso . Ngoài các loại phân hóa học, Chisso còn sản xuất axit acetic, vinyl chloride và các loại chất dẻo. Chisso đã là một trong những công ty góp phần quan trọng vào sự tăng trưởng nhanh chóng của Nhật bản sau chiến tranh thế giới lần 2 . Từ thời Taisho (1912-1926), nước biển bị ô nhiễm do nước thải của Chisso đổ ra đã gây nên một số vấn đề. Tuy nhiên, từ năm 1932-1968, công ty Chisso tiếp tục sử dụng thủy ngân hữu cơ là chất xúc tác để sản xuất acetaldehyde, axit acetic và các chất dẻo. Tất nhiên trong quá trình sản xuất, methyl thủy ngân đã được sinh ra và cứ được đổ thẳng xuống biển mà không qua bất kì một sự xử lý nào . Thậm chí sau khi công ty Chisso biết rõ chính những nước thải của công ty họ gây nên căn bệnh Minamata, nhưng công ty vẫn không ngừng quá trình sản xuất của mình. Trong lần xét xử đầu tiên về căn bệnh Minamata, thái độ thờ ơ của Chisso đã bị chỉ trích kịch liệt .
Điều gì đã xảy ra với vịnh Minamata ?
Sự ô nhiễm đã làm nồng độ thủy ngân có trong nước biển của vịnh Minamata vượt quá 25 ppm. Lòng vịnh Minamata đã được nạo vét suốt 14 năm và tiêu phí tới 48.5 tỉ yên, những chi phí này do tỉnh Kumamoto đảm nhiệm. Sau khi được cải tạo, chất lượng nước trong vịnh Minamata đã trở thành một trong những nơi đứng đầu trong tỉnh Kumamoto về độ trong và độ sạch, vì vậy mọi người ngày nay có thể bơi lội hoặc chơi các môn thể thao dưới nước một cách an toàn ở đó. Nhằm để ngăn chặn những con cá đã bị nhiễm độc, và bảo vệ người dân ở trong tỉnh, tỉnh Kumamoto đã thả lưới ở cửa ra vào vịnh Minamata vào năm 1974 và vận động việc đánh cá nằm trong vịnh. Công ty Chisso đã mua lại số cá này và đem đi tiêu hủy. Từ khi Chisso ngừng việc sản xuất Acetaldehyde, nồng độ thủy ngân trong cá và sò trong vịnh Minamata càng ngày càng giảm xuống. Tháng 10/1994, tỉnh Kumamoto đã khẳng định lượng thủy ngân năm trong các loài cá tại vịnh Minamata đều nằm trong giới hạn tiêu chuẩn quốc gia là 0,4 ppm. Chính vì vậy vào tháng 6/1997, tỉnh Kumamoto đã tuyên bố Minamata trở lại an toàn và toàn bộ những tấm lưới trên được dỡ bỏ. Ngày nay, toàn bộ cá ở trong vịnh đều đảm bảo an toàn giống như những loài cá ở ngoài vịnh. Tuy những tấm lưới trên đã được dỡ bỏ, nhưng những cuộc điều tra về nồng độ thủy ngân trong các loài cá và sò trong vịnh Minamata đều được tiến hành mỗi năm 2 lần và sẽ kéo dài trong suốt 3 năm tới nữa. Các số liệu về Minamata là bài học rút ra cho không chỉ người Nhật và còn cho nhiều người dân trên thế giới nữa về việc môi trường bị tàn phá và sức khỏe con người bị ảnh hưởng trên diện rộng. Chính vì vậy mà căn bệnh Minamata cần được quan tâm nghiên cứu nhiều hơn nữa .
Những bệnh nhân Minamata đã yêu cầu những gì ?
Đã nhiều năm trôi qua kể từ khi căn bệnh Minamata bùng phát. Với các bệnh nhân Minamata, 40 năm qua là quãng thời gian của sự khó khăn và đấu tranh. Trong những phiên tòa và trong những cuộc thương lượng, điều mà các bệnh nhân yêu cầu với chính quyền và công ty Chisso là sự tạ lỗi chân thành từ đáy long của họ vì họ đã gây ra căn bệnh Minamata và thờ ơ trong việc giúp đỡ các bệnh nhân. Họ yêu cầu điều kiện sức khỏe của các bệnh nhân phải được quan tâm và hỗ trợ nhanh chóng. Chưa có giải pháp nào chữa hoàn toàn được căn bệnh Minamata. Phần lớn các bệnh nhân hang ngày phải đến bệnh viện để chữa trị và phục hồi. Hiện nay khi các bệnh nhân trở nên già hơn, số người phải nằm tại viên hoặc cần sự trợ giúp tại gia đình cũng tăng lên. Trong xã hội đang già đi của Nhật bản, những bệnh nhân này muốn được sống yên ổn cùng mọi người trong xã hội mà không phải bị lo lắng gì, là những mối quan tâm của các bệnh nhân tại Minamata. Những bệnh nhân mà có thể gi chuyển được, vẫn cố gắng làm việc. Mặc dù công việc nhà nông hoặc đánh bắt cá rất nặng nhọc, nhưng một số bệnh nhân vẫn có thể hỗ trợ công việc này. Một số bệnh nhân thì làm việc cho các công ty, và họ phải học cách sống cùng với căn bệnh này. Tuy nhiên vẫn có một số định kiến và hiểu lầm về căn bệnh Minamata này vẫn còn tồn tại. Nhiều người đã phải dấu họ là bệnh nhân Minamata, thậm chí ngay với cả người than trong gia đình hoặc họ hang. Một số người thì cống hiến cho các hoạt động như kể về giai đoạn trải qua căn bệnh của mình và những bài học cho các thế hệ trong tương lai, hy vọng rằng căn bệnh Minamata sẽ không được phép xảy ra ở bất kì nơi nào nữa .
Hiện nay công ty Chisso ra sao ?
Công ty Chisso có trụ sở ở Tokyo và có hai nhà máy khác ở Chiba và Okkayama, ngoài nhà máy ở Minamata. Các sản phẩm chính của Chiso là pha lê lỏng, các chất bảo quản, các chất chống sấy khô, phân hóa học, nhựa thông nhân tạo, và một số sản phẩm khác nữa. Nhà máy ở Minamata có 554 người vào tháng 10/2002 và Chisso vẫn là một công ty quan trọng ở Minamata. Chisso đang có bổn phận phải chịu trách nhiệm bồi thường cho những thiệt hại gây nên căn bệnh Minamata. Trong những năm 1975 và về sau này, việc quản lý của Chisso gặp khó khăn chính vì vậy mà tỉnh Kumamoto cũng đã phải giúp đỡ công ty Chisso bồi thường thiệt hại từ vốn cho vay của tỉnh trong giai đoạn từ năm 1978 - 2000. Tổng cộng Chisso phải bồi thường số tiền là 260 tỉ yên, chính vì vậy Chính phủ Nhật cũng phải ra tay giúp Chisso trả dần số tiền trên từ tháng 2/2002 cho đến khi tự Chisso có thể trả được số tiền nợ trên . Chisso vẫn phải chịu trách nhiệm trong việc trả phí tổn điều trị cho bệnh nhân Minamata và những thiệt hại cho đời sống của họ.
Một điều quan trọng để chúng ta nhận biết ở đây là những sai lầm như Chisso đã mắc phải ở Minamata sẽ không thể được phép xảy ra ở bất kì nơi nào nữa .
NewVnNews
NewVnNews - Để có sự hiện đại như ngày nay, trong quá trình phát triển kinh tế của mình, người Nhật cũng đã từng phải trả những giá đắt. Cần làm gì để không mắc lại sai lầm đó vừa có được kinh tế phát triển đó là lợi thế của những nước phát triển sau như Việt Nam.
Có lẽ không có người Nhật nào lại không biết đến cái tên Minamata, là tên của một thành phố xinh đẹp đầy thơ mộng tại Kyushu, giáp ranh giữa hai tỉnh Kagoshima và Kumamoto. Căn bệnh Minamata đã từng là điều kinh hoàng của biết bao người Nhật trong những năm cuối thập kỉ 60 đầu 70, đúng vào thời kì phát triển kinh tế ‘kì diệu’ của Nhật bản. Ngày ngay người Nhật luôn nhắc nhở, giáo dục thế hệ sau này của mình rằng, sẽ là điều không thể tha thứ được nếu những căn bệnh như Minamata lại bị tái diễn trong tương lai.
Minamata là căn bệnh gì?
Minamata là căn bệnh gây ra khi ăn một lượng lớn cá và sò trong vùng biển bị ô nhiễm nặng vì methyl thủy ngân thải ra vịnh Minamata. Đây không phải là căn bệnh lây nhiễm, hoặc bị di truyền về sau. Lần đầu tiên căn bệnh này được phát hiện tại Minamata thuộc tỉnh Kumamoto và năm 1956, và năm 1968, chính phủ Nhật bản đã chính thức tuyên bố, căn bệnh này cho công ty Chisso gây ra vì đã làm ô nhiễm môi trường.
Khi methyl thủy ngân xâm nhâp vào cơ thể, chúng sẽ tấn công vào cơ quan thần kinh trung ương. Các triệu chứng là chân và tay bị liệt hoặc run lẩy bẩy, mệt mỏi, ù tai, mắt mờ, điếc, nói lắp bắp…các hành động của cơ thể trở nên yếu ớt. Những bệnh nhân đầu tiên ở Minamata đã bị điên, bất tỉnh và chết một tháng sau khi bị mắc bệnh.
Có những bệnh nhân bị mắc bệnh Minamata kinh niên, như là đau đầu, mệt mỏi thường xuyên, mất khả năng vị giác và khứu giác, hay quên…Những điều này biểu lộ không rõ nét nhưng làm cuộc sống của họ trở nên khó khăn hơn. Nhiều người còn bị bệnh Minamata bẩm sinh khi mẹ của họ đã ăn cá bị ô nhiễm methyl thủy ngân khi đang mang thai họ, khiến cho họ sinh ra đã là người tàn tật. Chưa một giải pháp nào có hiệu quả để chữa căn bệnh Minamata, nhưng các bác sĩ đã cố gắng làm giảm bớt những triệu chứng trên bằng những biện pháp tập luyện, trị liệu. Ngoài những tổn hại về mặt cơ thể con người, còn có những tổn hại về mặt xã hội nữa, chắc hạn có những sự phân biệt đối xử với những người mắc căn bệnh này.
Thủy ngân hữu cơ là gì?
Con người đã có một lịch sử lâu dài với thủy ngân. Ở Nhật bản, thủy ngân được sử dụng cùng với vàng để dát lên bức tượng Phật khổng lồ ở Nara, trong thời Edo, thủy ngân được sử dụng để chế thuốc và bột bôi mặt. Tại Nhật, những nơi có tên là Niu chỉ đây là những khu vực mà thủy ngân đã được sản xuất và sử dụng.
Thủy ngân được phân ra làm hai loại: Thủy ngân hữu cơ và vô cơ. Thủy ngân kim loại, là loại thủy ngân vô cơ, được dùng trong nhiều sản phẩm quen thuộc như đèn huỳnh quang, ác qui, nhiệt kế.
Methyl thủy ngân gây nên căn bệnh Minamata là một loại của thủy ngân hữu cơ. Đây lào một loại bột trắng và có mùi giống như mùi lưu huỳnh bốc lên từ các suối nước nóng. Methyl thủy ngân dễ dàng được dạ dày và ruột hấp thụ và chuyển theo đường máu tới não, gan, thận và thậm chí nhau thai. Methyl thủy ngân cực kì độc và gây nên những hậu quả khôn lường.
Có bao nhiêu người đã mắc bệnh Minamata?
Cho đến ngày 30/4/1997, số người trong hai tỉnh Kumamoto và Kagoshima chứng nhận là đã mắc bệnh Minamata lên tới 17 ngàn người. Trong đó có 2.265 (trong đó 1.484 người đã qua đời cho đến 31/1/2003) đã được chính phủ công nhận. 10.625 người sau khi được chứng nhận là bệnh nhân Minamata đã được Chính phủ bồi thường. Như vậy, theo Chính phủ Nhật thì có tổng cộng 12.890 người đã mắc bệnh cho đến nay. Tuy nhiên có một số đã chết trước khi căn bệnh này được chính thức khám phá, và nhiều người chưa kịp nộp đơn xin chứng nhận thì đã chết. Nhiều người thì không nộp đơn vì nhiều lý do, chính vì vậy mà không thể có được một số liệu chính xác về những bệnh nhân Minamata.
Căn bệnh kiểu Minamata đã không chỉ xảy ra ở riêng vùng Minamata. Năm 1965 bệnh Minamata đã bùng phát dọc theo con sông Agano thuộc tỉnh Nigata, do công ty Showa Denko thải thủy ngân xuống. Những căn bệnh tương tự do bị nhiễm độc thủy ngân cũng đã xảy ra ở Trung Quốc và Canada. Trong những năm gần đây, sông và hồ vùng Amazon và Tanzania bị nhiễm thủy ngân cũng đã gây ra nhiều ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe con người.
Công ty Chisso là công ty gì?
Chisso đầu tiên là một công ty nhà máy thủy điện vào thời Meiji (1908). Sau đó, công ty này xây dựng một nhà máy sản xuất các bua tại Minamata. Sau đó công ty này có một thời gian dài sản xuất phân hóa học, và là một trong những công ty hóa chất hàng đầu của Nhật bản.
Khi công ty Chisso phát triển quá trình sản xuất của mình tại Minamata và Minamata đã trở thành một trong những thành phố công nghiệp hàng đầu ở tỉnh Kumamoto, nhưng quá trình ô nhiễm do công ty Chisso gây nên thì ngày càng tăng. Một giám đốc của công ty Chisso đã từng là Thị trưởng của thành phố Minamata. Công ty Chisso càng có ảnh hưởng tới khu vực và người dân càng bị phụ thuộc vào sự phát triển của Chisso.
Ngoài các loại phân hóa học, Chisso còn sản xuất axit acetic, vinyl chloride và các loại chất dẻo. Chisso đã là một trong những công ty góp phần quan trọng vào sự tăng trưởng nhanh chóng của Nhật bản sau chiến tranh thế giới lần II.
Từ thời Taisho (1912-1926), nước biển bị ô nhiễm do nước thải của Chisso đổ ra đã gây nên một số vấn đề. Tuy nhiên, từ năm 1932-1968, công ty Chisso tiếp tục sử dụng thủy ngân hữu cơ là chất xúc tác để sản xuất acetaldehyde, axit acetic và các chất dẻo. Tất nhiên trong quá trình sản xuất, methyl thủy ngân đã được sinh ra và cứ được đổ thẳng xuống biển mà không qua bất kì một sự xử lý nào.
Thậm chí sau khi công ty Chisso biết rõ chính những nước thải của công ty họ gây nên căn bệnh Minamata, nhưng công ty vẫn không ngừng quá trình sản xuất của mình. Trong lần xét xử đầu tiên về căn bệnh Minamata, thái độ thờ ơ của Chisso đã bị chỉ trích kịch liệt.
Hiện nay công ty Chisso ra sao?
Công ty Chisso có trụ sở ở Tokyo và có hai nhà máy khác ở Chiba và Okkayama, ngoài nhà máy ở Minamata. Các sản phẩm chính của Chiso là pha lê lỏng, các chất bảo quản, các chất chống sấy khô, phân hóa học, nhựa thông nhân tạo, và một số sản phẩm khác nữa. Nhà máy ở Minamata có 554 người vào tháng 10/2002 và Chisso vẫn là một công ty quan trọng ở Minamata. Chisso đang có bổn phận phải chịu trách nhiệm bồi thường cho những thiệt hại gây nên căn bệnh Minamata. Trong những năm 1975 và về sau này, việc quản lý của Chisso gặp khó khăn chính vì vậy mà tỉnh Kumamoto cũng đã phải giúp đỡ công ty Chisso bồi thường thiệt hại từ vốn cho vay của tỉnh trong giai đoạn từ 1978-2000. Tổng cộng Chisso phải bồi thường số tiền là 260 tỉ yên, chính vì vậy Chính phủ Nhật cũng phải ra tay giúp Chisso trả dần số tiền trên từ tháng 2/2002 cho đến khi tự Chisso có thể trả được số tiền nợ trên.
Chisso vẫn phải chịu trách nhiệm trong việc trả phí tổn điều trị cho bệnh nhân Minamata và những thiệt hại cho đời sống của họ. Một điều quan trọng để chúng ta nhận biết ở đây là những sai lầm như Chisso đã mắc phải ở Minamata sẽ không thể được phép xảy ra ở bất kì nơi nào nữa.
Điều gì đã xảy ra với vịnh Minamata?
Sự ô nhiễm đã làm nồng độ thủy ngân có trong nước biển của vịnh Minamata vượt quá 25 ppm. Lòng vịnh Minamata đã được nạo vét suốt 14 năm và tiêu phí tới 48.5 tỉ yên, những chi phí này do tỉnh Kumamoto đảm nhiệm. Sau khi được cải tạo, chất lượng nước trong vịnh Minamata đã trở thành một trong những nơi đứng đầu trong tỉnh Kumamoto về độ trong và độ sạch, vì vậy mọi người ngày nay có thể bơi lội hoặc chơi các môn thể thao dưới nước một cách an toàn ở đó. Nhằm để ngăn chặn những con cá đã bị nhiễm độc, và bảo vệ người dân ở trong tỉnh, tỉnh Kumamoto đã thả lưới ở cửa ra vào vịnh Minamata vào năm 1974 và vận động việc đánh cá nằm trong vịnh. Công ty Chisso đã mua lại số cá này và đem đi tiêu hủy.
Từ khi Chisso ngừng việc sản xuất Acetaldehyde, nồng độ thủy ngân trong cá và sò trong vịnh Minamata càng ngày càng giảm xuống. Tháng 10/1994, tỉnh Kumamoto đã khẳng định lượng thủy ngân năm trong các loài cá tại vịnh Minamata đều nằm trong giới hạn tiêu chuẩn quốc gia là 0,4 ppm. Chính vì vậy vào tháng 6/1997, tỉnh Kumamoto đã tuyên bố Minamata trở lại an toàn và toàn bộ những tấm lưới trên được dỡ bỏ. Ngày nay, toàn bộ cá ở trong vịnh đều đảm bảo an toàn giống như những loài cá ở ngoài vịnh.
Tuy những tấm lưới trên đã được dỡ bỏ, nhưng những cuộc điều tra về nồng độ thủy ngân trong các loài cá và sò trong vịnh Minamata đều được tiến hành mỗi năm 2 lần và sẽ kéo dài trong suốt 3 năm tới nữa. Các số liệu về Minamata là bài học rút ra cho không chỉ người Nhật và còn cho nhiều người dân trên thế giới nữa về việc môi trường bị tàn phá và sức khỏe con người bị ảnh hưởng trên diện rộng. Chính vì vậy mà căn bệnh Minamata cần được quan tâm nghiên cứu nhiều hơn nữa.
Những bệnh nhân Minamata được bồi thường như thế nào?
Các bệnh nhân và công ty Chisso đã cùng đi đến một kết luận cuối cùng vào tháng 6/1973, dựa trên quyết định của tòa án phán quyết về căn bệnh Minamata vào tháng 3/1973. Theo trên, những người được cấp chứng nhận là bệnh nhân Minamata đã được nhận một khoản tiền bồi thường từ 16-18 triệu yên. Ngoài ra Chisso còn phải trả tiền trợ cấp hang năm, chi phí thuốc men, tiền chăm sóc, tiền mai tang, tiền trị liệu suối nước nóng, châm cứu…. Ngoài ra công ty này còn phải trả tiền giúp đỡ, quà tặng an ủi, trị liệu massage, chi phí đi và về của bệnh nhân tới bệnh viện….
Ngoài ra, với những người tuy không nộp đơn để xin chứng nhận trở thành bệnh nhân Minamata, nhưng họ rõ ràng đã phải trải qua những giai đoạn bất hạnh khi bị mất các cảm giác, suy nhược cơ thể, đã ăn một lượng lớn cá và sò…được hai tỉnh Kumamoto và Kagoshima trả tiền viện phí trong những danh mục mà bảo hiểm y tế không trả cho, và những chi phí y tế khác (Khoảng 17,200-23,500 yên/tháng) từ tháng 11/2000, dựa theo Dự án tổng hợp giải quyết bệnh Minamata.
Dựa trên Chương trình trợ giúp của chính phủ, cho những người, mặc dầu họ còn sống hay đã chết, là những người đã bị ảnh hưởng sức khỏe từ Methyl thủy ngân (trừ những người được chứng nhận là bệnh nhân Minamata) đã đồng ý với Chisso rằng là họ sẽ không đòi them một khoản bồi thường nào nữa từ năm 1996, sau khi nhận một khoản tiền bồi thường trọn gói là 2,6 triệu yên/người.
Những bệnh nhân Minamata đã yêu cầu những gì?
Hơn 40 năm đã trôi qua kể từ khi căn bệnh Minamata bùng phát. Với các bệnh nhân Minamata, 40 năm qua là quãng thời gian của sự khó khăn và đấu tranh. Trong những phiên tòa và trong những cuộc thương lượng, điều mà các bệnh nhân yêu cầu với chính quyền và công ty Chisso là sự tạ lỗi chân thành từ đáy long của họ vì họ đã gây ra căn bệnh Minamata và thờ ơ trong việc giúp đỡ các bệnh nhân. Họ yêu cầu điều kiện sức khỏe của các bệnh nhân phải được quan tâm và hỗ trợ nhanh chóng.
Chưa có giải pháp nào chữa hoàn toàn được căn bệnh Minamata. Phần lớn các bệnh nhân hang ngày phải đến bệnh viện để chữa trị và phục hồi. Hiện nay khi các bệnh nhân trở nên già hơn, số người phải nằm tại viên hoặc cần sự trợ giúp tại gia đình cũng tăng lên. Trong xã hội đang già đi của Nhật bản, những bệnh nhân này muốn được sống yên ổn cùng mọi người trong xã hội mà không phải bị lo lắng gì, là những mối quan tâm của các bệnh nhân tại Minamata.
Những bệnh nhân mà có thể gi chuyển được, vẫn cố gắng làm việc. Mặc dù công việc nhà nông hoặc đánh bắt cá rất nặng nhọc, nhưng một số bệnh nhân vẫn có thể hỗ trợ công việc này. Một số bệnh nhân thì làm việc cho các công ty, và họ phải học cách sống cùng với căn bệnh này. Tuy nhiên vẫn có một số định kiến và hiểu lầm về căn bệnh Minamata này vẫn còn tồn tại. Nhiều người đã phải dấu họ là bệnh nhân Minamata, thậm chí ngay với cả người than trong gia đình hoặc họ hang. Một số người thì cống hiến cho các hoạt động như kể về giai đoạn trải qua căn bệnh của mình và những bài học cho các thế hệ trong tương lai, hy vọng rằng căn bệnh Minamata sẽ không được phép xảy ra ở bất kì nơi nào nữa.
Moyai Naoshi nghĩa là gì?
Moyai có nghĩa là buộc những chiếc thuyền lại cùng nhau, hoặc làm một điều gì đó cùng với nhau. Chúng tôi đặt tên một dự án cộng đồng của chúng tôi là ‘Moyai Naoshi’, để nhấn mạnh các công việc đối phó với căn bệnh Minamata, để hiểu và làm việc với con người ở đây khi sức khỏe bị tổn hại và trong điều kiện môi trường bị tàn phá.
Đầu tiên khi căn bệnh Minamata mới bùng phát, các bệnh nhân Minamata gặp rất nhiều vấn đề để hòa hợp với các hang xóm của mình, vì họ nghĩ rằng đây là một căn bệnh lây nhiễm. Thậm chí sau khi Chisso được khẳng định là nguyên nhân gây ra bệnh Minamata do methyl thủy ngân thải ra biển, công việc này cũng bị những người phụ thuộc vào công ty Chisso thờ ơ. Vì những phiên tòa và món tiền bồi thường khổng lồ đã đe dọa đến sự tồn tại của Chisso.
Những bệnh nhân còn bị sự phân biện đối xử, hoặc phỉ báng từ một số người, khi họ nhận tiền bồi thường. Vì trong những người nộp đơn xin chứng nhận là bệnh nhân Minamata, có người cho rằng họ đã giả là bị bệnh. Sau khi Chisso bị cáo buộc là thủ phạm gây ra căn bệnh và phải bồi thường, đã có nhiều căng thẳng và xung đột xảy ra từ những nhóm người có các quan điểm khác nhau.
Mặc dù có những khó khăn qua nững sự hiểu lầm như vậy, mọi người đã nhận thức ra rằng sự thù địch không mang lại điều gì cả. Chính quyền, người dân ở đây, và những bệnh nhân đang có những hoạt động nhằm tái thiết lại Minamata qua các cuộc nói chuyện và các hoạt động.
Lời kết
Minamata là căn bệnh gây ra do con người ăn cá và sò từ vùng biển bị ô nhiễm nặng nề bởi công ty Chisso thải methyl thủy ngân ra biển. Cùng thời gian đó, sự xung đột và thù địch giữa người với người trong cộng đồng cũng bung phát.
Mọi công dân của Minamata nhận ra rằng, nước và thức ăn là rất cần thiết cho cuộc sống, và là vô giá. Ngành xây dựng và công nghiệp không thể được cho phép tàn phá môi trường.
Sự sản xuất hàng loạt, tiêu thụ hàng loạt làm cho cuộc sống của chúng ta thuận tiện hơn, thịnh vượng hơn, nhưng cũng sinh ra hàng loạt rác thải. Tuy nhiên môi trường và sức khỏe của chúng ta phải chịu đựng với những cột khói thải khổng lồ, phân hóa học trong nông nghiệp, những hóa chất bảo quản và hàng loạt những hóa chất độc hại khác. Chúng ta không thể chỉ nghĩ đến cuộc sống vật chất giàu có đơn thuần của chúng ta mà không tham khảo đến mối liên quan với các nước khác. Bệnh Minamata cho chúng ta thấy rằng con người vừa là thủ phạm vừa là nạn nhân.
Bệnh Minamata còn cho chúng ta thấy rằng, để cùng tồn tại với tự nhiên, dựa trên quan điểm chúng ta phải sống đền đáp lại thiên nhiên, nghĩ về mối quan hệ với mọi người, sông hồ, biển, về những loại thức ăn an toàn, giảm bớt rác thải ở nhà và rác thải công nghiệp, phải phát triển kĩ thuật tái chế, và giải quyết các vấn đề của địa cầu
Có lẽ không có người Nhật nào lại không biết đến cái tên Minamata, là tên của một thành phố xinh đẹp đầy thơ mộng tại Kyushu, giáp ranh giữa hai tỉnh Kagoshima và Kumamoto. Căn bệnh Minamata đã từng là điều kinh hoàng của biết bao người Nhật trong những năm cuối thập kỉ 60 đầu 70, đúng vào thời kì phát triển kinh tế ‘kì diệu’ của Nhật bản. Ngày ngay người Nhật luôn nhắc nhở, giáo dục thế hệ sau này của mình rằng, sẽ là điều không thể tha thứ được nếu những căn bệnh như Minamata lại bị tái diễn trong tương lai.
Minamata là căn bệnh gì?
Minamata là căn bệnh gây ra khi ăn một lượng lớn cá và sò trong vùng biển bị ô nhiễm nặng vì methyl thủy ngân thải ra vịnh Minamata. Đây không phải là căn bệnh lây nhiễm, hoặc bị di truyền về sau. Lần đầu tiên căn bệnh này được phát hiện tại Minamata thuộc tỉnh Kumamoto và năm 1956, và năm 1968, chính phủ Nhật bản đã chính thức tuyên bố, căn bệnh này cho công ty Chisso gây ra vì đã làm ô nhiễm môi trường.
Khi methyl thủy ngân xâm nhâp vào cơ thể, chúng sẽ tấn công vào cơ quan thần kinh trung ương. Các triệu chứng là chân và tay bị liệt hoặc run lẩy bẩy, mệt mỏi, ù tai, mắt mờ, điếc, nói lắp bắp…các hành động của cơ thể trở nên yếu ớt. Những bệnh nhân đầu tiên ở Minamata đã bị điên, bất tỉnh và chết một tháng sau khi bị mắc bệnh.
Có những bệnh nhân bị mắc bệnh Minamata kinh niên, như là đau đầu, mệt mỏi thường xuyên, mất khả năng vị giác và khứu giác, hay quên…Những điều này biểu lộ không rõ nét nhưng làm cuộc sống của họ trở nên khó khăn hơn. Nhiều người còn bị bệnh Minamata bẩm sinh khi mẹ của họ đã ăn cá bị ô nhiễm methyl thủy ngân khi đang mang thai họ, khiến cho họ sinh ra đã là người tàn tật. Chưa một giải pháp nào có hiệu quả để chữa căn bệnh Minamata, nhưng các bác sĩ đã cố gắng làm giảm bớt những triệu chứng trên bằng những biện pháp tập luyện, trị liệu. Ngoài những tổn hại về mặt cơ thể con người, còn có những tổn hại về mặt xã hội nữa, chắc hạn có những sự phân biệt đối xử với những người mắc căn bệnh này.
Thủy ngân hữu cơ là gì?
Con người đã có một lịch sử lâu dài với thủy ngân. Ở Nhật bản, thủy ngân được sử dụng cùng với vàng để dát lên bức tượng Phật khổng lồ ở Nara, trong thời Edo, thủy ngân được sử dụng để chế thuốc và bột bôi mặt. Tại Nhật, những nơi có tên là Niu chỉ đây là những khu vực mà thủy ngân đã được sản xuất và sử dụng.
Thủy ngân được phân ra làm hai loại: Thủy ngân hữu cơ và vô cơ. Thủy ngân kim loại, là loại thủy ngân vô cơ, được dùng trong nhiều sản phẩm quen thuộc như đèn huỳnh quang, ác qui, nhiệt kế.
Methyl thủy ngân gây nên căn bệnh Minamata là một loại của thủy ngân hữu cơ. Đây lào một loại bột trắng và có mùi giống như mùi lưu huỳnh bốc lên từ các suối nước nóng. Methyl thủy ngân dễ dàng được dạ dày và ruột hấp thụ và chuyển theo đường máu tới não, gan, thận và thậm chí nhau thai. Methyl thủy ngân cực kì độc và gây nên những hậu quả khôn lường.
Có bao nhiêu người đã mắc bệnh Minamata?
Cho đến ngày 30/4/1997, số người trong hai tỉnh Kumamoto và Kagoshima chứng nhận là đã mắc bệnh Minamata lên tới 17 ngàn người. Trong đó có 2.265 (trong đó 1.484 người đã qua đời cho đến 31/1/2003) đã được chính phủ công nhận. 10.625 người sau khi được chứng nhận là bệnh nhân Minamata đã được Chính phủ bồi thường. Như vậy, theo Chính phủ Nhật thì có tổng cộng 12.890 người đã mắc bệnh cho đến nay. Tuy nhiên có một số đã chết trước khi căn bệnh này được chính thức khám phá, và nhiều người chưa kịp nộp đơn xin chứng nhận thì đã chết. Nhiều người thì không nộp đơn vì nhiều lý do, chính vì vậy mà không thể có được một số liệu chính xác về những bệnh nhân Minamata.
Căn bệnh kiểu Minamata đã không chỉ xảy ra ở riêng vùng Minamata. Năm 1965 bệnh Minamata đã bùng phát dọc theo con sông Agano thuộc tỉnh Nigata, do công ty Showa Denko thải thủy ngân xuống. Những căn bệnh tương tự do bị nhiễm độc thủy ngân cũng đã xảy ra ở Trung Quốc và Canada. Trong những năm gần đây, sông và hồ vùng Amazon và Tanzania bị nhiễm thủy ngân cũng đã gây ra nhiều ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe con người.
Công ty Chisso là công ty gì?
Chisso đầu tiên là một công ty nhà máy thủy điện vào thời Meiji (1908). Sau đó, công ty này xây dựng một nhà máy sản xuất các bua tại Minamata. Sau đó công ty này có một thời gian dài sản xuất phân hóa học, và là một trong những công ty hóa chất hàng đầu của Nhật bản.
Khi công ty Chisso phát triển quá trình sản xuất của mình tại Minamata và Minamata đã trở thành một trong những thành phố công nghiệp hàng đầu ở tỉnh Kumamoto, nhưng quá trình ô nhiễm do công ty Chisso gây nên thì ngày càng tăng. Một giám đốc của công ty Chisso đã từng là Thị trưởng của thành phố Minamata. Công ty Chisso càng có ảnh hưởng tới khu vực và người dân càng bị phụ thuộc vào sự phát triển của Chisso.
Ngoài các loại phân hóa học, Chisso còn sản xuất axit acetic, vinyl chloride và các loại chất dẻo. Chisso đã là một trong những công ty góp phần quan trọng vào sự tăng trưởng nhanh chóng của Nhật bản sau chiến tranh thế giới lần II.
Từ thời Taisho (1912-1926), nước biển bị ô nhiễm do nước thải của Chisso đổ ra đã gây nên một số vấn đề. Tuy nhiên, từ năm 1932-1968, công ty Chisso tiếp tục sử dụng thủy ngân hữu cơ là chất xúc tác để sản xuất acetaldehyde, axit acetic và các chất dẻo. Tất nhiên trong quá trình sản xuất, methyl thủy ngân đã được sinh ra và cứ được đổ thẳng xuống biển mà không qua bất kì một sự xử lý nào.
Thậm chí sau khi công ty Chisso biết rõ chính những nước thải của công ty họ gây nên căn bệnh Minamata, nhưng công ty vẫn không ngừng quá trình sản xuất của mình. Trong lần xét xử đầu tiên về căn bệnh Minamata, thái độ thờ ơ của Chisso đã bị chỉ trích kịch liệt.
Hiện nay công ty Chisso ra sao?
Công ty Chisso có trụ sở ở Tokyo và có hai nhà máy khác ở Chiba và Okkayama, ngoài nhà máy ở Minamata. Các sản phẩm chính của Chiso là pha lê lỏng, các chất bảo quản, các chất chống sấy khô, phân hóa học, nhựa thông nhân tạo, và một số sản phẩm khác nữa. Nhà máy ở Minamata có 554 người vào tháng 10/2002 và Chisso vẫn là một công ty quan trọng ở Minamata. Chisso đang có bổn phận phải chịu trách nhiệm bồi thường cho những thiệt hại gây nên căn bệnh Minamata. Trong những năm 1975 và về sau này, việc quản lý của Chisso gặp khó khăn chính vì vậy mà tỉnh Kumamoto cũng đã phải giúp đỡ công ty Chisso bồi thường thiệt hại từ vốn cho vay của tỉnh trong giai đoạn từ 1978-2000. Tổng cộng Chisso phải bồi thường số tiền là 260 tỉ yên, chính vì vậy Chính phủ Nhật cũng phải ra tay giúp Chisso trả dần số tiền trên từ tháng 2/2002 cho đến khi tự Chisso có thể trả được số tiền nợ trên.
Chisso vẫn phải chịu trách nhiệm trong việc trả phí tổn điều trị cho bệnh nhân Minamata và những thiệt hại cho đời sống của họ. Một điều quan trọng để chúng ta nhận biết ở đây là những sai lầm như Chisso đã mắc phải ở Minamata sẽ không thể được phép xảy ra ở bất kì nơi nào nữa.
Điều gì đã xảy ra với vịnh Minamata?
Sự ô nhiễm đã làm nồng độ thủy ngân có trong nước biển của vịnh Minamata vượt quá 25 ppm. Lòng vịnh Minamata đã được nạo vét suốt 14 năm và tiêu phí tới 48.5 tỉ yên, những chi phí này do tỉnh Kumamoto đảm nhiệm. Sau khi được cải tạo, chất lượng nước trong vịnh Minamata đã trở thành một trong những nơi đứng đầu trong tỉnh Kumamoto về độ trong và độ sạch, vì vậy mọi người ngày nay có thể bơi lội hoặc chơi các môn thể thao dưới nước một cách an toàn ở đó. Nhằm để ngăn chặn những con cá đã bị nhiễm độc, và bảo vệ người dân ở trong tỉnh, tỉnh Kumamoto đã thả lưới ở cửa ra vào vịnh Minamata vào năm 1974 và vận động việc đánh cá nằm trong vịnh. Công ty Chisso đã mua lại số cá này và đem đi tiêu hủy.
Từ khi Chisso ngừng việc sản xuất Acetaldehyde, nồng độ thủy ngân trong cá và sò trong vịnh Minamata càng ngày càng giảm xuống. Tháng 10/1994, tỉnh Kumamoto đã khẳng định lượng thủy ngân năm trong các loài cá tại vịnh Minamata đều nằm trong giới hạn tiêu chuẩn quốc gia là 0,4 ppm. Chính vì vậy vào tháng 6/1997, tỉnh Kumamoto đã tuyên bố Minamata trở lại an toàn và toàn bộ những tấm lưới trên được dỡ bỏ. Ngày nay, toàn bộ cá ở trong vịnh đều đảm bảo an toàn giống như những loài cá ở ngoài vịnh.
Tuy những tấm lưới trên đã được dỡ bỏ, nhưng những cuộc điều tra về nồng độ thủy ngân trong các loài cá và sò trong vịnh Minamata đều được tiến hành mỗi năm 2 lần và sẽ kéo dài trong suốt 3 năm tới nữa. Các số liệu về Minamata là bài học rút ra cho không chỉ người Nhật và còn cho nhiều người dân trên thế giới nữa về việc môi trường bị tàn phá và sức khỏe con người bị ảnh hưởng trên diện rộng. Chính vì vậy mà căn bệnh Minamata cần được quan tâm nghiên cứu nhiều hơn nữa.
Những bệnh nhân Minamata được bồi thường như thế nào?
Các bệnh nhân và công ty Chisso đã cùng đi đến một kết luận cuối cùng vào tháng 6/1973, dựa trên quyết định của tòa án phán quyết về căn bệnh Minamata vào tháng 3/1973. Theo trên, những người được cấp chứng nhận là bệnh nhân Minamata đã được nhận một khoản tiền bồi thường từ 16-18 triệu yên. Ngoài ra Chisso còn phải trả tiền trợ cấp hang năm, chi phí thuốc men, tiền chăm sóc, tiền mai tang, tiền trị liệu suối nước nóng, châm cứu…. Ngoài ra công ty này còn phải trả tiền giúp đỡ, quà tặng an ủi, trị liệu massage, chi phí đi và về của bệnh nhân tới bệnh viện….
Ngoài ra, với những người tuy không nộp đơn để xin chứng nhận trở thành bệnh nhân Minamata, nhưng họ rõ ràng đã phải trải qua những giai đoạn bất hạnh khi bị mất các cảm giác, suy nhược cơ thể, đã ăn một lượng lớn cá và sò…được hai tỉnh Kumamoto và Kagoshima trả tiền viện phí trong những danh mục mà bảo hiểm y tế không trả cho, và những chi phí y tế khác (Khoảng 17,200-23,500 yên/tháng) từ tháng 11/2000, dựa theo Dự án tổng hợp giải quyết bệnh Minamata.
Dựa trên Chương trình trợ giúp của chính phủ, cho những người, mặc dầu họ còn sống hay đã chết, là những người đã bị ảnh hưởng sức khỏe từ Methyl thủy ngân (trừ những người được chứng nhận là bệnh nhân Minamata) đã đồng ý với Chisso rằng là họ sẽ không đòi them một khoản bồi thường nào nữa từ năm 1996, sau khi nhận một khoản tiền bồi thường trọn gói là 2,6 triệu yên/người.
Những bệnh nhân Minamata đã yêu cầu những gì?
Hơn 40 năm đã trôi qua kể từ khi căn bệnh Minamata bùng phát. Với các bệnh nhân Minamata, 40 năm qua là quãng thời gian của sự khó khăn và đấu tranh. Trong những phiên tòa và trong những cuộc thương lượng, điều mà các bệnh nhân yêu cầu với chính quyền và công ty Chisso là sự tạ lỗi chân thành từ đáy long của họ vì họ đã gây ra căn bệnh Minamata và thờ ơ trong việc giúp đỡ các bệnh nhân. Họ yêu cầu điều kiện sức khỏe của các bệnh nhân phải được quan tâm và hỗ trợ nhanh chóng.
Chưa có giải pháp nào chữa hoàn toàn được căn bệnh Minamata. Phần lớn các bệnh nhân hang ngày phải đến bệnh viện để chữa trị và phục hồi. Hiện nay khi các bệnh nhân trở nên già hơn, số người phải nằm tại viên hoặc cần sự trợ giúp tại gia đình cũng tăng lên. Trong xã hội đang già đi của Nhật bản, những bệnh nhân này muốn được sống yên ổn cùng mọi người trong xã hội mà không phải bị lo lắng gì, là những mối quan tâm của các bệnh nhân tại Minamata.
Những bệnh nhân mà có thể gi chuyển được, vẫn cố gắng làm việc. Mặc dù công việc nhà nông hoặc đánh bắt cá rất nặng nhọc, nhưng một số bệnh nhân vẫn có thể hỗ trợ công việc này. Một số bệnh nhân thì làm việc cho các công ty, và họ phải học cách sống cùng với căn bệnh này. Tuy nhiên vẫn có một số định kiến và hiểu lầm về căn bệnh Minamata này vẫn còn tồn tại. Nhiều người đã phải dấu họ là bệnh nhân Minamata, thậm chí ngay với cả người than trong gia đình hoặc họ hang. Một số người thì cống hiến cho các hoạt động như kể về giai đoạn trải qua căn bệnh của mình và những bài học cho các thế hệ trong tương lai, hy vọng rằng căn bệnh Minamata sẽ không được phép xảy ra ở bất kì nơi nào nữa.
Moyai Naoshi nghĩa là gì?
Moyai có nghĩa là buộc những chiếc thuyền lại cùng nhau, hoặc làm một điều gì đó cùng với nhau. Chúng tôi đặt tên một dự án cộng đồng của chúng tôi là ‘Moyai Naoshi’, để nhấn mạnh các công việc đối phó với căn bệnh Minamata, để hiểu và làm việc với con người ở đây khi sức khỏe bị tổn hại và trong điều kiện môi trường bị tàn phá.
Đầu tiên khi căn bệnh Minamata mới bùng phát, các bệnh nhân Minamata gặp rất nhiều vấn đề để hòa hợp với các hang xóm của mình, vì họ nghĩ rằng đây là một căn bệnh lây nhiễm. Thậm chí sau khi Chisso được khẳng định là nguyên nhân gây ra bệnh Minamata do methyl thủy ngân thải ra biển, công việc này cũng bị những người phụ thuộc vào công ty Chisso thờ ơ. Vì những phiên tòa và món tiền bồi thường khổng lồ đã đe dọa đến sự tồn tại của Chisso.
Những bệnh nhân còn bị sự phân biện đối xử, hoặc phỉ báng từ một số người, khi họ nhận tiền bồi thường. Vì trong những người nộp đơn xin chứng nhận là bệnh nhân Minamata, có người cho rằng họ đã giả là bị bệnh. Sau khi Chisso bị cáo buộc là thủ phạm gây ra căn bệnh và phải bồi thường, đã có nhiều căng thẳng và xung đột xảy ra từ những nhóm người có các quan điểm khác nhau.
Mặc dù có những khó khăn qua nững sự hiểu lầm như vậy, mọi người đã nhận thức ra rằng sự thù địch không mang lại điều gì cả. Chính quyền, người dân ở đây, và những bệnh nhân đang có những hoạt động nhằm tái thiết lại Minamata qua các cuộc nói chuyện và các hoạt động.
Lời kết
Minamata là căn bệnh gây ra do con người ăn cá và sò từ vùng biển bị ô nhiễm nặng nề bởi công ty Chisso thải methyl thủy ngân ra biển. Cùng thời gian đó, sự xung đột và thù địch giữa người với người trong cộng đồng cũng bung phát.
Mọi công dân của Minamata nhận ra rằng, nước và thức ăn là rất cần thiết cho cuộc sống, và là vô giá. Ngành xây dựng và công nghiệp không thể được cho phép tàn phá môi trường.
Sự sản xuất hàng loạt, tiêu thụ hàng loạt làm cho cuộc sống của chúng ta thuận tiện hơn, thịnh vượng hơn, nhưng cũng sinh ra hàng loạt rác thải. Tuy nhiên môi trường và sức khỏe của chúng ta phải chịu đựng với những cột khói thải khổng lồ, phân hóa học trong nông nghiệp, những hóa chất bảo quản và hàng loạt những hóa chất độc hại khác. Chúng ta không thể chỉ nghĩ đến cuộc sống vật chất giàu có đơn thuần của chúng ta mà không tham khảo đến mối liên quan với các nước khác. Bệnh Minamata cho chúng ta thấy rằng con người vừa là thủ phạm vừa là nạn nhân.
Bệnh Minamata còn cho chúng ta thấy rằng, để cùng tồn tại với tự nhiên, dựa trên quan điểm chúng ta phải sống đền đáp lại thiên nhiên, nghĩ về mối quan hệ với mọi người, sông hồ, biển, về những loại thức ăn an toàn, giảm bớt rác thải ở nhà và rác thải công nghiệp, phải phát triển kĩ thuật tái chế, và giải quyết các vấn đề của địa cầu
NewVnNews
Hơn 6 thập niên đã trôi qua nhưng hậu quả của thảm họa nhiễm độc thủy ngân do Tập đoàn hóa chất Chisso gây ra vẫn hằn sâu lên thành phố cảng nhỏ bé Minamata, tây nam Nhật Bản.
Theo Đài truyền hình RTS, năm 1907, một nhà máy hóa dầu của Chisso được mở ở Minamata. Từ năm 1932, nhà máy này bắt đầu xả nước thải của quá trình sản xuất nhựa tổng hợp, có chứa nhiều kim loại nặng, đặc biệt là thủy ngân, ra biển. Năm 1949, dân địa phương đã bắt gặp những chú mèo bị co giật, còn gọi là “mèo nhảy múa”, hoặc kỳ lạ hơn là lao thẳng xuống biển chết. Tuy nhiên, ban đầu, chưa ai quy trách nhiệm cho Chisso, vốn được xem là một công ty kiểu mẫu của Nhật Bản vì trong giai đoạn xảy ra Thế chiến 2 vẫn duy trì được hoạt động để phát triển mạnh mẽ sau khi chiến tranh kết thúc.
Gian nan tìm công lý
Tháng 10.2013, lễ tưởng niệm khoảng 2.000 nạn nhân đã tử vong trong vụ nhiễm độc thủy ngân nghiêm trọng nhất lịch sử nhân loại được tổ chức tại Minamata với sự tham dự của đại diện 140 quốc gia. Đó là chưa kể hàng chục ngàn, thậm chí hàng trăm ngàn người bị ảnh hưởng sức khỏe ở nhiều cấp độ khác nhau từ vụ bê bối về môi trường này. Đây cũng được xem là trường hợp đầu tiên của hàng loạt vụ ô nhiễm công nghiệp nghiêm trọng trong thế kỷ 20.
Thập niên “biển trắng”
|
Tờ Le Monde dẫn lời một cụ ông sống ở phía nam Minamata kể lại: “Thập niên 1950 được chúng tôi gọi là “biển trắng”: cả đàn cá phơi bụng lên mặt biển. Chúng tôi chỉ cần dùng tay cũng vớt được đầy cá. Chúng có vẻ tươi nên mọi người mang về ăn bình thường. Một phần vì khi ấy, ai cũng khốn khó”.
Hải sản là thực phẩm chính của người dân ở thành phố này. Và sau những cái chết kỳ quái của mèo và chim biển, đến lượt những người có sức khỏe dễ bị ảnh hưởng nhất - trẻ em, thai phụ, người cao tuổi - ở Minamata phát các triệu chứng lạ. Năm 1953, những ca đầu tiên chính thức được ghi nhận và 3 năm sau thì được công nhận là “bệnh lạ”. Chính quyền địa phương nghi ngờ đây là một dịch bệnh nên bệnh nhân bị cô lập. Những người tử vong được chôn cất âm thầm vào đêm khuya để tránh gây thêm lời đồn.
Năm 1959, sau khi khám nghiệm những con mèo chết kỳ quái, một nhóm khoa học gia kết luận có sự liên quan giữa “bệnh lạ” ở Minamata với nước thải chứa thủy ngân từ nhà máy của Chisso. Tuy nhiên, nghiên cứu đã bị tập đoàn này cùng chính quyền địa phương bác bỏ, nhóm khoa học gia bị giải tán. Chisso vẫn tiếp tục xả thải ra vùng biển quanh thành phố cảng Minamata cho đến năm 1968 mới bị buộc phải ngưng vì Bộ Y tế Nhật Bản xác nhận nguyên nhân gây “bệnh lạ” chính là thủy ngân.
Ước tính, tổng cộng nhà máy hóa chất của tập đoàn này đã xả ra biển 400 tấn thủy ngân, trong đó, riêng giai đoạn từ 1956 - 1968 là 150 tấn.
Gian nan tìm công lý
Sau khi được công nhận chính thức, “bệnh lạ” đã có tên là “bệnh Minamata”: bệnh nhân bị nhiễm độc thủy ngân, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến hệ thần kinh (mất xúc giác, thị giác giảm, bị run tay, co giật, bị liệt…), nguy cơ bị ung thư cao. Thai nhi tại Minamata bị nhiễm thủy ngân từ mẹ khi sinh ra có khả năng rất lớn bị thiểu năng trí tuệ và nhiều khuyết tật nặng nề khác.
Theo Trung tâm nghiên cứu khoa học quốc gia Pháp (CNRS), thảm họa sinh thái ở Minamata là một trường hợp điển hình của ô nhiễm kim loại, vốn là một dạng ô nhiễm cực kỳ khó xử lý với hậu quả kéo dài vì kim loại không tự tiêu hủy được. Khi con người ăn hải sản nhiễm thủy ngân, kim loại này cũng tích tụ lại và dần tàn phá hệ thần kinh trung ương và hệ thần kinh ngoại biên.
Báo cáo của CNRS cho biết vào thập niên 1950, 1960, một số mẫu cá bắt được ở vùng biển ven Minamata có lượng thủy ngân cao gấp 500.000 lần so với thông thường. Tại khu vực này, một số loài động vật thân mềm (nghêu, ốc), cũng có lượng thủy ngân cao hơn 10.000 lần.
Tác động của thủy ngân đã rõ ràng nhưng do ảnh hưởng của Chisso, phải mất rất nhiều thời gian, các nạn nhân của thảm họa sinh thái tại Minamata mới được công nhận và bồi thường. Năm 1973, tức 20 năm sau khi những ca bệnh đầu tiên được ghi nhận, tập đoàn này bị tòa xử phải bồi thường từ 16 - 18 triệu yen cho các nạn nhân. Nhưng chỉ 2.665 người được công nhận để được bồi thường còn 16.000 hồ sơ đã bị bác.
Năm 1996, thêm 12.371 nạn nhân được nhận một khoản bồi thường 2,6 triệu yen mỗi người để rút đơn kiện Chisso. Năm 2004, Tòa án tối cao Nhật Bản ra phán quyết thừa nhận chính phủ nước này và chính quyền địa phương đã không đưa ra biện pháp xử lý kịp thời để ngăn chặn thảm họa ở Minamata.
Năm 2009, một dự luật được thông qua quy định mức bồi thường cho khoảng 40.000 người bị bệnh Minamata vẫn chưa được chính thức công nhận là nạn nhân của Chisso. Rất nhiều nạn nhân vì bệnh tình trầm trọng nên đã qua đời trước khi được xử thắng kiện
NewVnNews
NewVnNews - Câu chuyện Minamata (Nhật Bản) và cũng sẽ là "Câu chuyện Vũng Áng" trong hiện tại và tương lai. Tôi muốn kể câu chuyện về Minamata (Nhật Bản), xảy ra cách đây 60 năm, không chỉ là chuyện những con cá, tôm cua nghêu sò ốc hến nhiễm thủy ngân độc hại cỡ nào, mà còn muốn nói về hành trình đi tìm chân lý khoa học đã bị trắc trở ra sao bởi kim tiền thế lực, cùng với những nỗi đau mà nạn nhân phải chịu đựng. Câu chuyện bắt đầu thế này…
Từ em bé đến vũ điệu của mèo
Một ngày tháng tư năm 1956, một bé gái năm tuổi được đưa tới bệnh xá của nhà máy Chisso ở Minamata, thành phố nằm trên hòn đảo cực nam của Nhật Bản. Bé đi đứng run rẩy, ăn nói khó khăn, và bị co giật liên tục. Hai ngày sau, em gái của bé cũng nhập viện với triệu chứng tương tự. Mẹ của hai bé cho biết, nhiều trẻ em láng giềng cũng bị như thế. Bác sĩ cho rằng các biểu hiện này đều liên quan đến hệ thần kinh trung ương, và có thể đó là nạn dịch truyền nhiễm. Các bệnh nhân lập tức bị cô lập, buồn tủi và mặc cảm do sự phân biệt đối xử và xa lánh của cộng đồng địa phương.
Chưa hết, những con mèo bỗng lên cơn, múa may quay cuồng rồi chết. Trên trời quạ rơi xuống đất, mặt biển cá chết nổi lềnh bềnh, dưới biển rong tảo không thể sống…
Sự việc không còn đơn giản nữa. Trường Đại học Kumamoto được mời nhập cuộc. Kumamoto là tỉnh mà thành phố Minamata trực thuộc. Nhóm nghiên cứu nhận thấy, ngoài các triệu chứng kể trên, nhiều người còn bị tê tay, tê chân, không tự cài được nút áo, mắt mờ, tai lãng, khó nuốt, co giật, hôn mê sâu và sau cùng tử vong. Vài tháng sau đó, 40 bệnh nhân được ghi nhận, 14 người trong số đó đã chết.
Kim loại nặng bị tình nghi
Nhóm nghiên cứu nhận thấy bệnh nhân đều là những người dân sống ở làng chài ven vịnh Minamata, và đều ăn cá, tôm cua sò ốc hến ở đó. Họ cho rằng, có thể là do ngộ độc thực phẩm, và có lẽ là do kim loại nặng.
Nhưng kim loại nặng thì nhiều loại lắm: đồng, chì, thủy ngân, mangan, arsenic, selenium, thallium. Trong đó mangan bị “chiếu tướng” kỹ nhất vì dư lượng khá cao được tìm thấy trong cá. Tuy nhiên, triệu chứng do ngộ độc các kim loại nặng nêu trên (trừ thủy ngân), không giống với những gì quan sát được nơi những bệnh nhân ở Minamata.
Sự việc cứ lình xình như thế, hết giả thuyết này đến giả thuyết nọ, chẳng đi đến đâu. Gần hai năm sau, tháng ba năm 1958, một nhà thần kinh học người Anh, Douglas McAlpine sau chuyến viếng thăm Minamata, mới nêu ý kiến, các triệu chứng của Minamata rất giống với ngộ độc thủy ngân hữu cơ, và cho lời khuyên, nên hướng nghiên cứu tập trung vào thủ phạm này.
Mẫu tóc của bệnh nhân và cư dân vùng Minamata được đem đi xét nghiệm. Mức thủy ngân ở bệnh nhân là 705 ppm max, và cư dân (chưa phát bệnh) là 191 ppm. Trong khi mức trung bình của cư dân ngoài vùng Minamata chỉ có 4 ppm. Một sự chênh lệch khủng khiếp!
Nghêu sò ốc hến tôm cua cá biển ở vùng vịnh Minamata cũng được đem xét nghiệm. Bùn cặn nơi đây có mức thủy ngân rất cao, nhưng cao nhất là ở vùng xả thải của nhà máy Chisso, và giảm dần khi đổ ra biển. Ở gần miệng cống thải, không thể tưởng tượng nổi, mức thủy ngân tìm thấy trong bùn cặn lên tới 2 kg/tấn. Đây phải xem là “mỏ thủy ngân” rồi chứ đâu còn là chất thải. Chuyện thật như đùa, sau này công ty Chisso cho tái chế đống bùn này để lấy thủy ngân đem bán.
Tập đoàn Chisso là ai?
Chisso là một trong những công ty hóa chất hàng đầu của Nhật Bản, thành lập năm 1908, và có nhà máy đặt tại Minamata. Ban đầu, Chisso chỉ sản xuất phân bón, sau mới sản xuất thêm nhiều loại hóa chất khác, trong đó có chất acetaldehyde, liên quan tới thủy ngân.
Năm 1932, Chisso mới bắt đầu sản xuất acetaldehyde ở mức 210 tấn/năm, và tăng dần lên tới 45.245 tấn vào năm 1960. Công nghệ sản xuất acetaldehyde đòi hỏi phải dùng nhiều loại chất xúc tác, trong đó có sulfate thủy ngân và ôxít mangan. Năm 1951, Chisso đã thay ôxít mangan bằng sulfur sắt (III) để có giá thành rẻ hơn. Tuy nhiên phản ứng phụ trong chuỗi xúc tác này tạo ra methyl thủy ngân, một dạng thuỷ ngân hữu cơ độc hại nhất, độc hơn sulfate thủy ngân nhiều.
Như vậy, Chisso đã bắt xả đầu thải thủy ngân ra vịnh Minamata từ năm 1932. Cùng với sản lượng tăng dần, và tai hại nhất là năm 1951 xả thêm methyl thủy ngân, và cho mãi đến năm 1968 mới ngưng công nghệ “đổi chất xúc tác” này. Thảm họa Minamata bùng nổ từ năm 1956.
Vào thập niên 1950, hiểu biết của khoa học về ngộ độc của thủy ngân và những hợp chất của nó còn hạn chế nhiều, chỉ luẩn quẩn trong phòng thí nghiệm hoặc ở quy mô nhỏ, chứ còn ô nhiễm do xả thải công nghiệp ở diện rộng, rồi ngộ độc qua tôm cá, và chỉ đích danh được methyl thủy ngân là thủ phạm là điều không dễ dàng. Và cũng vì không dễ dàng, nên khoa học mới bị nhập nhằng đổi trắng thay đen.
Và cũng nên biết rằng, những năm 1950, 1960, dân Nhật đang nỗ lực rất nhiều để xây dựng lại công nghiệp và phát triển kinh tế gần như từ zero sau khi thất trận ở thế chiến II. Thế nên thành công của Chisso là niềm tự hào của cả dân tộc Nhật lúc đó. Những nạn nhân đòi hỏi bồi thường và những người liên quan đều bị dư luận Nhật xem là những kẻ phá rối.
Những con tim chân chính vì chân lý
Khi nhóm nghiên cứu của đại học Kumamoto đến làm việc, Chisso đã bỏ mặc họ muốn làm gì thì làm, muốn đoán sao thì đoán, chứ không cho biết công nghệ ra sao, đã sử dụng những chất gì, hay chất nào đáng ngờ nhất. Lý do đây là bí mật công nghệ, mà niềm tự hào dân tộc đã nâng cấp thành “bí mật quốc gia”. Tất cả công nhân viên Chisso đều nhiệt tình che đậy sự thật.
Bác sĩ Hosokawa, giám đốc bệnh xá nhà máy đã làm thí nghiệm bằng cách cho những con mèo lành mạnh ăn thức ăn có trộn nước thải từ Chisso. Hơn 70 ngày sau, những con mèo này biểu hiện triệu chứng múa may cuồng loạn và chết. Chisso ra lệnh ngưng thí nghiệm và không được phép tiết lộ ra ngoài. Thực nghiệm của Hosokawa tuy không chỉ được đích danh thủ phạm là methyl thủy ngân, nhưng cũng chỉ ra được mối quan hệ giữa chất xả thải của Chisso và thảm họa đang xảy ra.
Ô nhiễm thuỷ ngân do con người gây ra: Các nhà máy nhiệt điện (đốt than) chiếm nhiều nhất (65%), khai thác vàng (11%), luyện sắt thép, xi măng, pin, đèn huỳnh quang,… thải thủy ngân ra không khí, ao hồ, sông biển… Thủy ngân dù ở dạng nguyên tố (Hg), hay dạng muối vô cơ, khi đi vào nguồn nước đa số đều bị các vi sinh vật chuyển hoá thành methyl thủy ngân, tích tụ trong rong tảo. Đây là dạng độc hại nhất của thuỷ ngân trong thực phẩm.
Sau này, bác sĩ Hosokawa, trước khi chết vì ung thư đã ra làm chứng trước tòa, và là nhân chứng sáng giá nhất trong vụ kiện đòi đền bù.
Khi biết nhóm nghiên cứu của Đại học Kumamoto sẽ tập trung khảo sát và lấy mẫu ở khu vực cảng Hyakkken, nơi Chisso xả thải. Chisso ngưng xả theo hướng đó, mà cho xả trực tiếp xuống sông Minamata luôn. Hậu quả là ô nhiễm lan rộng hơn đến các khu vực lân cận. Cá chết, người bệnh tràn lan thêm. Chơi ngông đến thế là cùng!
Tìm cách đánh lạc hướng khảo sát của Đại học Kumamoto đang nhắm vào methyl thủy ngân, Chisso đã “móc ngoéo” với Bộ Ngoại thương và Kỹ nghệ và Hiệp hội Kỹ nghệ hóa chất Nhật Bản để tài trợ cho những nghiên cứu khác, nhằm chứng tỏ căn bệnh thần kinh đó là do nguyên nhân khác chứ không phải do nước thải của Chisso, và rằng nhà máy Chisso “cương quyết” tiếp tục hoạt động.
Chưa hết, Chisso còn vận động để chính phủ cắt luôn tài trợ nghiên cứu về bệnh Minamata của Đại học Kumamoto, nhưng nhóm khoa học gia “ngoan cố” của Kumamoto vẫn âm thầm đi tiếp công việc của mình. Năm 1962, giáo sư Irigayama đã tách được methyl thủy ngân từ trong hệ xúc tác thải ra của Chisso khi sản xuất acetaldehyde. Chân lý đã sáng tỏ, nhưng là thứ chân lý hẩm hiu, vùi dập. Cộng đồng khoa học Nhật hồi đó đã nhắm mắt làm ngơ với chân lý methyl thủy ngân.
Chỉ đến tháng sáu năm 1965, một thảm họa tương tự như Mianmata xảy ra ở thành phố Niigata (cách xa Minamata). Hai nhà máy sản xuất acetaldehyde ở đây đã xả thải ra thượng nguồn sông Agano. Hậu quả là cư dân và động vật ở hạ nguồn Agano mắc bệnh và có những triệu chứng tương tự như ở Minamata. Chân lý ngộ độc methyl thủy ngân không thể bị vùi dập được nữa.
Đã 60 năm kể từ khi những nạn nhân đầu tiên về ngộ độc thủy ngân được phát hiện ở Minamata do xả thải công nghiệp. Nhìn lại để thấy, chân lý khoa học không phải lúc nào cũng suôn sẻ. Đôi khi nó cũng chịu chung số phận bầm dập như nạn nhân ô nhiễm.
Vũ Thế Thành
Nguồn: Tạp chí Tia Sáng.
![]() |
| Công ty Chisso xin lỗi nạn nhân |
Từ em bé đến vũ điệu của mèo
Một ngày tháng tư năm 1956, một bé gái năm tuổi được đưa tới bệnh xá của nhà máy Chisso ở Minamata, thành phố nằm trên hòn đảo cực nam của Nhật Bản. Bé đi đứng run rẩy, ăn nói khó khăn, và bị co giật liên tục. Hai ngày sau, em gái của bé cũng nhập viện với triệu chứng tương tự. Mẹ của hai bé cho biết, nhiều trẻ em láng giềng cũng bị như thế. Bác sĩ cho rằng các biểu hiện này đều liên quan đến hệ thần kinh trung ương, và có thể đó là nạn dịch truyền nhiễm. Các bệnh nhân lập tức bị cô lập, buồn tủi và mặc cảm do sự phân biệt đối xử và xa lánh của cộng đồng địa phương.
Chưa hết, những con mèo bỗng lên cơn, múa may quay cuồng rồi chết. Trên trời quạ rơi xuống đất, mặt biển cá chết nổi lềnh bềnh, dưới biển rong tảo không thể sống…
Sự việc không còn đơn giản nữa. Trường Đại học Kumamoto được mời nhập cuộc. Kumamoto là tỉnh mà thành phố Minamata trực thuộc. Nhóm nghiên cứu nhận thấy, ngoài các triệu chứng kể trên, nhiều người còn bị tê tay, tê chân, không tự cài được nút áo, mắt mờ, tai lãng, khó nuốt, co giật, hôn mê sâu và sau cùng tử vong. Vài tháng sau đó, 40 bệnh nhân được ghi nhận, 14 người trong số đó đã chết.
Kim loại nặng bị tình nghi
Nhóm nghiên cứu nhận thấy bệnh nhân đều là những người dân sống ở làng chài ven vịnh Minamata, và đều ăn cá, tôm cua sò ốc hến ở đó. Họ cho rằng, có thể là do ngộ độc thực phẩm, và có lẽ là do kim loại nặng.
Nhưng kim loại nặng thì nhiều loại lắm: đồng, chì, thủy ngân, mangan, arsenic, selenium, thallium. Trong đó mangan bị “chiếu tướng” kỹ nhất vì dư lượng khá cao được tìm thấy trong cá. Tuy nhiên, triệu chứng do ngộ độc các kim loại nặng nêu trên (trừ thủy ngân), không giống với những gì quan sát được nơi những bệnh nhân ở Minamata.
Sự việc cứ lình xình như thế, hết giả thuyết này đến giả thuyết nọ, chẳng đi đến đâu. Gần hai năm sau, tháng ba năm 1958, một nhà thần kinh học người Anh, Douglas McAlpine sau chuyến viếng thăm Minamata, mới nêu ý kiến, các triệu chứng của Minamata rất giống với ngộ độc thủy ngân hữu cơ, và cho lời khuyên, nên hướng nghiên cứu tập trung vào thủ phạm này.
Mẫu tóc của bệnh nhân và cư dân vùng Minamata được đem đi xét nghiệm. Mức thủy ngân ở bệnh nhân là 705 ppm max, và cư dân (chưa phát bệnh) là 191 ppm. Trong khi mức trung bình của cư dân ngoài vùng Minamata chỉ có 4 ppm. Một sự chênh lệch khủng khiếp!
Nghêu sò ốc hến tôm cua cá biển ở vùng vịnh Minamata cũng được đem xét nghiệm. Bùn cặn nơi đây có mức thủy ngân rất cao, nhưng cao nhất là ở vùng xả thải của nhà máy Chisso, và giảm dần khi đổ ra biển. Ở gần miệng cống thải, không thể tưởng tượng nổi, mức thủy ngân tìm thấy trong bùn cặn lên tới 2 kg/tấn. Đây phải xem là “mỏ thủy ngân” rồi chứ đâu còn là chất thải. Chuyện thật như đùa, sau này công ty Chisso cho tái chế đống bùn này để lấy thủy ngân đem bán.
Tập đoàn Chisso là ai?
Chisso là một trong những công ty hóa chất hàng đầu của Nhật Bản, thành lập năm 1908, và có nhà máy đặt tại Minamata. Ban đầu, Chisso chỉ sản xuất phân bón, sau mới sản xuất thêm nhiều loại hóa chất khác, trong đó có chất acetaldehyde, liên quan tới thủy ngân.
Năm 1932, Chisso mới bắt đầu sản xuất acetaldehyde ở mức 210 tấn/năm, và tăng dần lên tới 45.245 tấn vào năm 1960. Công nghệ sản xuất acetaldehyde đòi hỏi phải dùng nhiều loại chất xúc tác, trong đó có sulfate thủy ngân và ôxít mangan. Năm 1951, Chisso đã thay ôxít mangan bằng sulfur sắt (III) để có giá thành rẻ hơn. Tuy nhiên phản ứng phụ trong chuỗi xúc tác này tạo ra methyl thủy ngân, một dạng thuỷ ngân hữu cơ độc hại nhất, độc hơn sulfate thủy ngân nhiều.
Như vậy, Chisso đã bắt xả đầu thải thủy ngân ra vịnh Minamata từ năm 1932. Cùng với sản lượng tăng dần, và tai hại nhất là năm 1951 xả thêm methyl thủy ngân, và cho mãi đến năm 1968 mới ngưng công nghệ “đổi chất xúc tác” này. Thảm họa Minamata bùng nổ từ năm 1956.
Vào thập niên 1950, hiểu biết của khoa học về ngộ độc của thủy ngân và những hợp chất của nó còn hạn chế nhiều, chỉ luẩn quẩn trong phòng thí nghiệm hoặc ở quy mô nhỏ, chứ còn ô nhiễm do xả thải công nghiệp ở diện rộng, rồi ngộ độc qua tôm cá, và chỉ đích danh được methyl thủy ngân là thủ phạm là điều không dễ dàng. Và cũng vì không dễ dàng, nên khoa học mới bị nhập nhằng đổi trắng thay đen.
Và cũng nên biết rằng, những năm 1950, 1960, dân Nhật đang nỗ lực rất nhiều để xây dựng lại công nghiệp và phát triển kinh tế gần như từ zero sau khi thất trận ở thế chiến II. Thế nên thành công của Chisso là niềm tự hào của cả dân tộc Nhật lúc đó. Những nạn nhân đòi hỏi bồi thường và những người liên quan đều bị dư luận Nhật xem là những kẻ phá rối.
Những con tim chân chính vì chân lý
Khi nhóm nghiên cứu của đại học Kumamoto đến làm việc, Chisso đã bỏ mặc họ muốn làm gì thì làm, muốn đoán sao thì đoán, chứ không cho biết công nghệ ra sao, đã sử dụng những chất gì, hay chất nào đáng ngờ nhất. Lý do đây là bí mật công nghệ, mà niềm tự hào dân tộc đã nâng cấp thành “bí mật quốc gia”. Tất cả công nhân viên Chisso đều nhiệt tình che đậy sự thật.
Bác sĩ Hosokawa, giám đốc bệnh xá nhà máy đã làm thí nghiệm bằng cách cho những con mèo lành mạnh ăn thức ăn có trộn nước thải từ Chisso. Hơn 70 ngày sau, những con mèo này biểu hiện triệu chứng múa may cuồng loạn và chết. Chisso ra lệnh ngưng thí nghiệm và không được phép tiết lộ ra ngoài. Thực nghiệm của Hosokawa tuy không chỉ được đích danh thủ phạm là methyl thủy ngân, nhưng cũng chỉ ra được mối quan hệ giữa chất xả thải của Chisso và thảm họa đang xảy ra.
Ô nhiễm thuỷ ngân do con người gây ra: Các nhà máy nhiệt điện (đốt than) chiếm nhiều nhất (65%), khai thác vàng (11%), luyện sắt thép, xi măng, pin, đèn huỳnh quang,… thải thủy ngân ra không khí, ao hồ, sông biển… Thủy ngân dù ở dạng nguyên tố (Hg), hay dạng muối vô cơ, khi đi vào nguồn nước đa số đều bị các vi sinh vật chuyển hoá thành methyl thủy ngân, tích tụ trong rong tảo. Đây là dạng độc hại nhất của thuỷ ngân trong thực phẩm.
Sau này, bác sĩ Hosokawa, trước khi chết vì ung thư đã ra làm chứng trước tòa, và là nhân chứng sáng giá nhất trong vụ kiện đòi đền bù.
Khi biết nhóm nghiên cứu của Đại học Kumamoto sẽ tập trung khảo sát và lấy mẫu ở khu vực cảng Hyakkken, nơi Chisso xả thải. Chisso ngưng xả theo hướng đó, mà cho xả trực tiếp xuống sông Minamata luôn. Hậu quả là ô nhiễm lan rộng hơn đến các khu vực lân cận. Cá chết, người bệnh tràn lan thêm. Chơi ngông đến thế là cùng!
Tìm cách đánh lạc hướng khảo sát của Đại học Kumamoto đang nhắm vào methyl thủy ngân, Chisso đã “móc ngoéo” với Bộ Ngoại thương và Kỹ nghệ và Hiệp hội Kỹ nghệ hóa chất Nhật Bản để tài trợ cho những nghiên cứu khác, nhằm chứng tỏ căn bệnh thần kinh đó là do nguyên nhân khác chứ không phải do nước thải của Chisso, và rằng nhà máy Chisso “cương quyết” tiếp tục hoạt động.
Chưa hết, Chisso còn vận động để chính phủ cắt luôn tài trợ nghiên cứu về bệnh Minamata của Đại học Kumamoto, nhưng nhóm khoa học gia “ngoan cố” của Kumamoto vẫn âm thầm đi tiếp công việc của mình. Năm 1962, giáo sư Irigayama đã tách được methyl thủy ngân từ trong hệ xúc tác thải ra của Chisso khi sản xuất acetaldehyde. Chân lý đã sáng tỏ, nhưng là thứ chân lý hẩm hiu, vùi dập. Cộng đồng khoa học Nhật hồi đó đã nhắm mắt làm ngơ với chân lý methyl thủy ngân.
Chỉ đến tháng sáu năm 1965, một thảm họa tương tự như Mianmata xảy ra ở thành phố Niigata (cách xa Minamata). Hai nhà máy sản xuất acetaldehyde ở đây đã xả thải ra thượng nguồn sông Agano. Hậu quả là cư dân và động vật ở hạ nguồn Agano mắc bệnh và có những triệu chứng tương tự như ở Minamata. Chân lý ngộ độc methyl thủy ngân không thể bị vùi dập được nữa.
Đã 60 năm kể từ khi những nạn nhân đầu tiên về ngộ độc thủy ngân được phát hiện ở Minamata do xả thải công nghiệp. Nhìn lại để thấy, chân lý khoa học không phải lúc nào cũng suôn sẻ. Đôi khi nó cũng chịu chung số phận bầm dập như nạn nhân ô nhiễm.
Vũ Thế Thành
Nguồn: Tạp chí Tia Sáng.
NewVnNews
Vịnh Minamata ở Nhật bị công nghiệp xả nước thải có chứa thủy ngân, thủy ngân xâm nhập vào sinh vật thủy sinh rồi vào cá tạo thành hợp chất thủy ngân hữu cơ. Người ăn cá từ vịnh này bị ngộ độc thần kinh với những hậu quả vô cùng thảm khốc.
Sau hơn 60 năm, Nhật Bản vẫn có nhiều trẻ em sinh ra với dị tật do thủy ngân và hàng ngàn người hiện nay vẫn bị nhiễm độc thần kinh làm tiêu tốn rất nhiều triệu đô la của nhà nước. Đấy là cái giá phải trả cho sự buông lỏng kiểm soát môi trường trong phát triển".
Chúng tôi xin giới thiệu câu chuyện về thảm họa Minamata diễn ra cuối những năm 50 thế kỷ XX tại Nhật Bản để người đọc thêm một lần nữa nhìn rõ những hậu quả thảm khốc khi con người coi nhẹ việc bảo vệ môi trường.
Chân dung một nạn nhân của thảm họa Minamata
Khi nghe tin người dân ở Vịnh Minamata, Nhật Bản giờ đây có thể ăn cá được nuôi ở chính địa phương này, Kazumitsu Hannaga đã gầm gừ và không ngừng rên rỉ. Những ngón tay xương xẩu cào cấu trong không trung để bày tỏ sự phản đối.
Nhưng không ai hiểu chính xác ông Hannaga đang cố gắng nói điều gì. Ông bị câm. Ông bị dị tật bẩm sinh do ngộ độc bào thai, bởi mẹ ông khi mang thai đã ăn cá nhiễm thủy ngân.
Bị mẹ bỏ rơi khi còn nhỏ, ông Hannaga ở với người bố bị liệt cũng do ăn cá nhiễm chất độc này.
42 năm qua, ông sống trong bệnh viện là chủ yếu. Cổ không cứng nên đầu thường bị nghiêng bên này bên nọ, đôi chân bị teo lại nên ông chỉ biết di chuyển bằng xe lăn.
Niềm đam mê duy nhất của ông Hannaga là chụp ảnh. Vì thế, mỗi lần muốn ghi lại một khoảnh khắc đẹp, ông đều phải gồng mình, lấy hết sức để giữ chiếc máy ảnh không bị rung.
Ông Hannaga được chẩn đoán là mắc bệnh Minamata, một căn bệnh khủng khiếp đã gây ra nỗi kinh hoàng cho cả nước Nhật Bản trong những năm cuối thập kỉ 60 đầu 70 của thế kỷ trước, đúng vào thời kì phát triển kinh tế "kì diệu" của nước này.
Minamata là tên một thành phố xinh đẹp thuộc tỉnh Kumamoto, phía nam Nhật Bản nhưng nó cũng là tên một căn bệnh xuất phát từ thành phố này.
Ngày 21-4-1956, một bé gái 5 tuổi được đưa vào bệnh viện địa phương với những triệu chứng kỳ lạ như khó đi, khó nói và co giật. 2 ngày sau, em của cô bé này cũng bị các triệu chứng tương tự.
Đến đầu tháng 5-1956, giám đốc bệnh viện báo cáo với giới chức y tế địa phương rằng đã phát hiện một căn bệnh chưa từng được biết đến. Ngay lập tức, chính quyền thành phố Minamata đã thành lập một ủy ban điều tra căn bệnh lạ này.
Đến tháng 11.1956, các nhà khoa học Trường Đại học Kumamoto phát hiện căn bệnh này là một loại nhiễm độc kim loại nặng được truyền qua các loại hải sản như cá và sò,
Đó là bệnh do nhiễm độc thủy ngân gây hủy hoại hệ thống thần kinh, chủ yếu là thần kinh trung ương.
Lúc đó, dù bị nằm trong diện tình nghi liên quan đến vụ này, Công ty hóa chất Chisso, chuyên sản xuất chất acetaldehyde từ năm 1932 phủ nhận mọi trách nhiệm về vụ việc và tiếp tục xả chất thải ra Vịnh.
Người dân địa phương vẫn tiếp tục đánh bắt và chế biến các món ăn từ những loại hải sản nhiễm độc đó trong thực đơn hằng ngày.
Năm 1965, một vụ nhiễm độc trên diện rộng ở tỉnh Nigata, trên đảo Honshu, cách Kumamoto khoảng 1.000 km cũng xảy ra tương tự như ở Minamata và thủ phạm tình nghi cũng là chất thải chứa thủy ngân của một công ty khai khoáng trên địa bàn.
Đến năm 1968, các chuyên gia mới xác định được bệnh Minamata do metyl thủy ngân gây ra. Hợp chất độc hại này do Công ty Chisso ở Minamata và Công ty Showa Denko ở Niigata tạo ra trong quá trình sản xuất acetaldehyde.
Nhà máy của hai công ty này đã xả chất thải không qua xử lý ra sông. Thông qua chuỗi thức ăn, độc chất được tích tụ trong cá và sò và truyền sang cư dân địa phương.
Năm 2001, có khoảng 1.700 trong số 2.200 người bị chết vì bị ảnh hưởng bởi độc chất từ nhà máy hóa chất ở miền Nam Nhật Bản, là do bị ngộ độc vì ăn cá ở địa phương.
Hậu quả kinh hoàng của bệnh Minamata
Bệnh Minamata để lại nhiều hậu quả kinh hoàng tùy theo mức độ nhiễm độc.
Những người bệnh nặng thường rú lên vì đau đớn, thường xuyên co giật và bị liệt. Một số bệnh nhân bị mù, điếc hoặc mất trí và nhiều người bị nhẹ hơn thì tay chân run, mất cảm giác, mất thăng bằng.
Phụ nữ nhiễm metyl thủy ngân khi mang thai sẽ có nguy cơ sinh con liệt não, bị điếc, bị mù hoặc đầu quá nhỏ, lớn lên thì tâm trí phát triển chậm.
Giờ đây, Vịnh Minamata đã trong sạch trở lại. Sau bao nhiêu cuộc chiến pháp lý, cuối cùng, công ty Chisso cũng đã bỏ hàng chục tỉ yên để bồi thường và chính phủ Nhật Bản cũng có nhiều động thái hỗ trợ bệnh nhân Minamata.
Tuy nhiên, sau hơn 50 năm, căn bệnh khủng khiếp này vẫn còn hành hạ biết bao nhiêu người.
Công ty Chisso đã từng góp phần phát triển thành phố Minamata và tạo công ăn việc làm cho dân địa phương nhưng hậu quả mà công ty này gây ra không gì bù đắp được.
Bài học đau xót của Thảm họa Minamata vẫn còn đó, như là minh chứng tiêu biểu nhất của việc phát triển kinh tế đưa tới những tác hại xấu về môi trường cho con người.
Shinobu Sakamoto, sinh ra đã bị tổn thương não, hiện cũng đang được chăm sóc và điều trị ở bệnh viện Minamata. Chị gái của bà, lúc 4 tuổi, cũng chết do ngộ độc thủy ngân khi ăn cá.
"Chừng nào chúng tôi còn sống, căn bệnh Minamata sẽ không bao giờ kết thúc”, Shinobu Sakamoto khẳng định.
Sau hơn 60 năm, Nhật Bản vẫn có nhiều trẻ em sinh ra với dị tật do thủy ngân và hàng ngàn người hiện nay vẫn bị nhiễm độc thần kinh làm tiêu tốn rất nhiều triệu đô la của nhà nước. Đấy là cái giá phải trả cho sự buông lỏng kiểm soát môi trường trong phát triển".
Chúng tôi xin giới thiệu câu chuyện về thảm họa Minamata diễn ra cuối những năm 50 thế kỷ XX tại Nhật Bản để người đọc thêm một lần nữa nhìn rõ những hậu quả thảm khốc khi con người coi nhẹ việc bảo vệ môi trường.
Chân dung một nạn nhân của thảm họa Minamata
Khi nghe tin người dân ở Vịnh Minamata, Nhật Bản giờ đây có thể ăn cá được nuôi ở chính địa phương này, Kazumitsu Hannaga đã gầm gừ và không ngừng rên rỉ. Những ngón tay xương xẩu cào cấu trong không trung để bày tỏ sự phản đối.
Nhưng không ai hiểu chính xác ông Hannaga đang cố gắng nói điều gì. Ông bị câm. Ông bị dị tật bẩm sinh do ngộ độc bào thai, bởi mẹ ông khi mang thai đã ăn cá nhiễm thủy ngân.
Bị mẹ bỏ rơi khi còn nhỏ, ông Hannaga ở với người bố bị liệt cũng do ăn cá nhiễm chất độc này.
![]() |
| Bức ảnh chụp bác sĩ Hiroyuki Moriyama và ông Kazumitsu Hannaga, một bệnh nhân Minatama ở bệnh viện địa phương vào năm 1991. |
Niềm đam mê duy nhất của ông Hannaga là chụp ảnh. Vì thế, mỗi lần muốn ghi lại một khoảnh khắc đẹp, ông đều phải gồng mình, lấy hết sức để giữ chiếc máy ảnh không bị rung.
Ông Hannaga được chẩn đoán là mắc bệnh Minamata, một căn bệnh khủng khiếp đã gây ra nỗi kinh hoàng cho cả nước Nhật Bản trong những năm cuối thập kỉ 60 đầu 70 của thế kỷ trước, đúng vào thời kì phát triển kinh tế "kì diệu" của nước này.
![]() |
| Bức ảnh chụp mẹ đang tắm cho con gái mắc bệnh Minamata (Ảnh của nhà báo nổi tiếng William Eugene Smith). |
Minamata là tên một thành phố xinh đẹp thuộc tỉnh Kumamoto, phía nam Nhật Bản nhưng nó cũng là tên một căn bệnh xuất phát từ thành phố này.
Ngày 21-4-1956, một bé gái 5 tuổi được đưa vào bệnh viện địa phương với những triệu chứng kỳ lạ như khó đi, khó nói và co giật. 2 ngày sau, em của cô bé này cũng bị các triệu chứng tương tự.
Đến đầu tháng 5-1956, giám đốc bệnh viện báo cáo với giới chức y tế địa phương rằng đã phát hiện một căn bệnh chưa từng được biết đến. Ngay lập tức, chính quyền thành phố Minamata đã thành lập một ủy ban điều tra căn bệnh lạ này.
Đến tháng 11.1956, các nhà khoa học Trường Đại học Kumamoto phát hiện căn bệnh này là một loại nhiễm độc kim loại nặng được truyền qua các loại hải sản như cá và sò,
Đó là bệnh do nhiễm độc thủy ngân gây hủy hoại hệ thống thần kinh, chủ yếu là thần kinh trung ương.
![]() |
| Hình ảnh bộ não của người bị mắc bệnh Minamata. |
Người dân địa phương vẫn tiếp tục đánh bắt và chế biến các món ăn từ những loại hải sản nhiễm độc đó trong thực đơn hằng ngày.
Năm 1965, một vụ nhiễm độc trên diện rộng ở tỉnh Nigata, trên đảo Honshu, cách Kumamoto khoảng 1.000 km cũng xảy ra tương tự như ở Minamata và thủ phạm tình nghi cũng là chất thải chứa thủy ngân của một công ty khai khoáng trên địa bàn.
Đến năm 1968, các chuyên gia mới xác định được bệnh Minamata do metyl thủy ngân gây ra. Hợp chất độc hại này do Công ty Chisso ở Minamata và Công ty Showa Denko ở Niigata tạo ra trong quá trình sản xuất acetaldehyde.
Nhà máy của hai công ty này đã xả chất thải không qua xử lý ra sông. Thông qua chuỗi thức ăn, độc chất được tích tụ trong cá và sò và truyền sang cư dân địa phương.
Năm 2001, có khoảng 1.700 trong số 2.200 người bị chết vì bị ảnh hưởng bởi độc chất từ nhà máy hóa chất ở miền Nam Nhật Bản, là do bị ngộ độc vì ăn cá ở địa phương.
Hậu quả kinh hoàng của bệnh Minamata
Bệnh Minamata để lại nhiều hậu quả kinh hoàng tùy theo mức độ nhiễm độc.
Những người bệnh nặng thường rú lên vì đau đớn, thường xuyên co giật và bị liệt. Một số bệnh nhân bị mù, điếc hoặc mất trí và nhiều người bị nhẹ hơn thì tay chân run, mất cảm giác, mất thăng bằng.
Phụ nữ nhiễm metyl thủy ngân khi mang thai sẽ có nguy cơ sinh con liệt não, bị điếc, bị mù hoặc đầu quá nhỏ, lớn lên thì tâm trí phát triển chậm.
![]() |
| Bà mẹ này khi mang thai đã ăn cá nhiễm thủy ngân. |
Tuy nhiên, sau hơn 50 năm, căn bệnh khủng khiếp này vẫn còn hành hạ biết bao nhiêu người.
Công ty Chisso đã từng góp phần phát triển thành phố Minamata và tạo công ăn việc làm cho dân địa phương nhưng hậu quả mà công ty này gây ra không gì bù đắp được.
Bài học đau xót của Thảm họa Minamata vẫn còn đó, như là minh chứng tiêu biểu nhất của việc phát triển kinh tế đưa tới những tác hại xấu về môi trường cho con người.
Shinobu Sakamoto, sinh ra đã bị tổn thương não, hiện cũng đang được chăm sóc và điều trị ở bệnh viện Minamata. Chị gái của bà, lúc 4 tuổi, cũng chết do ngộ độc thủy ngân khi ăn cá.
"Chừng nào chúng tôi còn sống, căn bệnh Minamata sẽ không bao giờ kết thúc”, Shinobu Sakamoto khẳng định.
Bệnh Minamata - do thảm họa đầu độc biển Minamata gây ra - rất khủng khiếp, có thể so sánh với thảm họa hạt nhân ở Hiroshima hay Nagasaki.
Trong lịch sử nhân loại và lịch sử Nhật Bản, đã có thảm họa khủng khiếp do thủy ngân gây ảnh hưởng đó là thảm họa Vùng vịnh Minamata của Nhật Bản với bệnh Minamata do chất thải của công ty Chisso gây ra.
Từ vùng Vịnh chết cho tới căn bệnh hủy diệt cơ thể
Cho đến nay căn bệnh Minamata và tên Công ty Chisso là hai cái tên liên quan đến nhau rất chặt chẽ. Trong suốt một khoảng thời gian dài từ năm 1932-1958, Công ty Chisso đã xả thải ra Vịnh Minamata thuộc tỉnh Kumamoto một lượng nước thải vô cùng lớn. Cho đến khi công ty này bị ngừng sản xuất vào năm 1968, thì lượng xả thải ra Vịnh Minamata đã biến Vịnh này thay đổi hoàn toàn giống như một Vịnh chết.
Theo nghiên cứu của các chuyên gia Nhật Bản, bệnh Minamata là một căn bệnh vô cùng nguy hiểm được phát tác từ các loại thực vật, động vật bị ô nhiễm thủy ngân do quá trình sinh sống trong lưu vực Vịnh Minamata chịu tác động xả thải của Công ty công nghiệp hóa học Chisso.
Bệnh này được xác nhận vào năm 1956, trở thành căn bệnh đầu tiên của loài người do ảnh hưởng của thực vật, động vật ô nhiễm trong môi trường.
Đây là một trong những căn bệnh nguy hiểm nhất xuất hiện trong thời kỳ Nhật Bản đạt tăng trưởng kinh tế cao nhất, và cũng là căn bệnh làm nhiều ngưởi chết nhất.
Trong lịch sử Nhật Bản, căn bệnh Minamata xuất hiện 2 lần làm nhiều người chết. Đó là từ năm 1950-1960, Công ty hóa chất Chisso, chuyên sản xuất chất acetaldehyde từ năm 1932 đã xả nhiều chất thải chứa hàm lượng thủy ngân cao ra Vịnh Minamata (như đã nói ở trên), khiến cho nồng độ thủy ngân có trong cá cao, ảnh hưởng trực tiếp tới người dân khu vực này.
Năm 1960, một vụ nhiễm độc tương tự xảy ra ở lưu vực sông của tỉnh Niigata trên đảo Honshu, cách Kumamoto khoảng 1.000 km. Người ta gọi căn bênh này là Minamata Niigata. Nguyên nhân cũng là chất thải chứa thủy ngân của Công ty điện tử Showa gây ra.
Tại thời điểm đó, công ty Chisso có 7 nhà máy hoạt động trong nước Nhật và 20 nhà máy hoạt động tại nước ngoài.
"Kỳ bệnh" và lượng thủy ngân khủng trong nước biển
Một câu hỏi lớn đặt ra là tại sao trong quá trình sản xuất lâu dài như thế từ năm 1932, mà tới sau những năm 1950 sự việc mới được phát hiện khi hàng loạt cá ở khu vực này chết, trong nhiều năm nguyên nhân không được xác định.
Lượng sản xuất chất acetaldehyde từ năm 1932-1954 của công ty nói trên tăng từ 209 lên tới 9.159 tấn, năm 1956 gấp 1,5 lần ở mức 15.919 tấn, và năm 1960 lên tới 45.244 tấn.
Bên cạnh đó, tại thời điểm bấy giờ các thiết bị máy móc cũ nát, kinh phí sản xuất bị cắt giảm nên việc xử lý chất thải là hầu như ít được chú trọng. Theo nghiên cứu gần đây, lượng thủy ngân chưa được xử lý trong giai đoạn mà Chisso thải ra Vịnh Minamata lúc bấy giờ theo từng giai đoạn là 0,6-6 tấn. Và mức độ nguy hiểm vẫn được nghiên cứu cho đến nay.
Bệnh nhiễm thủy ngân có thể làm giảm trí nhớ, làm giảm hoạt động của tiểu não, giảm thính lực và gây phát âm khó. Đây là kết luận đã được xác nhận khi kiểm tra và theo dõi bệnh cho 50 bệnh nhân.
Không những ảnh hưởng lên con người, mà bệnh Minamata do nhiễm chất thủy ngân đã làm cho mèo, quạ cũng chết hàng loạt. Ban đầu người ta không hiểu do nguyên nhân nào mà mèo, quạ lại chết nhiều như vậy. Nhân dân trong vùng lúc đó gọi là bệnh “mèo dại”. Và năm 1954, lần đầu tiên báo Kumamoto đã ra cảnh báo vì hiện tượng mèo chết hàng loạt.
Ngày 1/5/1956 trở thành sự kiện khi Nhật Bản công bố phát hiện ra bệnh Minamata trên cơ thể của bệnh nhân với kết luận tổn thương do hệ thần khinh trung ương nhưng không rõ nguyên nhân.
Đến 1954, có tới 12 người bị nhiễm bệnh này và có 5 người tử vong không rõ nguyên nhân. Nhiều ngư dân Nhật Bản lúc đó gọi đây là “kỳ bệnh”. Người bệnh lúc này còn mang thêm một nỗi khổ khác là bị kỳ thị, ghê sợ.
Năm 1956 có 50 người bị phát bệnh, trong đó có 11 người chết.
Năm 1957 căn bệnh này được xác định trên mèo chết do ăn các loài cá được đánh bắt ở Vịnh Minamata. Năm 1958, chính quyền địa phương Kumamoto chính thức cấm đánh bắt cá tại khu vực Vịnh Minamata.
Đến năm 1968 Chính phủ Nhật Bản mới xác nhận nguyên nhân bệnh Minamata do chất thải có chứa thủy ngân. Sự việc này đã được đưa lên tòa án Nhật Bản để xem xét với mục đích bảo vệ quyền lợi của hơn 2000 đã thiệt mạng một cách ấm ức ngay cả khi chưa rõ nguyên nhân, và hơn 13000 người vẫn đang bị ảnh hưởng.
Ký ức chết chóc và đau đớn
Hàng trăm người không có khả năng nhận thức, sống dự hoàn toàn vào bố mẹ. Nhiều bào thai không thể hình thành, nhiều người con sinh ra chân tay bị co quắp cho đến ngày nay. Ngay cả với những nhà nhiếp ảnh, bệnh Minamata là một kí ức kinh hoàng.
Đó là những hình ảnh người bệnh kêu la vì đau đớn, hình ảnh người co giật, sùi bọt mép, bại liệt cả đời sống trên xe lăn. Hay một số bệnh nhân bị mù, điếc, mất trí và mất thăng bằng.
Do mức độ nguy hiểm của bệnh Minamata, Bộ Môi trường Nhật Bản đã đưa ra một văn bản pháp lý với tên gọi “Tuyên truyền giáo dục về bệnh Minamata và cách phòng chống chất thủy ngân”.
Năm 2009, Chính phủ Nhật Bản cũng đưa ra một văn bản qui định việc cứu tế cho người bị thiệt hại do bệnh Minamata và giải quyết vấn đề bệnh này.
Những cuốn sách về bệnh Minamata, thân phận đau thương của những nạn nhân cho nhiễm thủy ngân vẫn được xuất bản. Thủy ngân là chất hóa học và những người sử dụng nó, dù vô tình hay hữu ý, để nó gây ảnh hưởng tới con người là tội ác.
Những người dân Nhật mang bệnh Minamata và cả những người không mang bệnh đang chiến đấu để bảo vệ sự sống của mình./.
Trong lịch sử nhân loại và lịch sử Nhật Bản, đã có thảm họa khủng khiếp do thủy ngân gây ảnh hưởng đó là thảm họa Vùng vịnh Minamata của Nhật Bản với bệnh Minamata do chất thải của công ty Chisso gây ra.
Từ vùng Vịnh chết cho tới căn bệnh hủy diệt cơ thể
Cho đến nay căn bệnh Minamata và tên Công ty Chisso là hai cái tên liên quan đến nhau rất chặt chẽ. Trong suốt một khoảng thời gian dài từ năm 1932-1958, Công ty Chisso đã xả thải ra Vịnh Minamata thuộc tỉnh Kumamoto một lượng nước thải vô cùng lớn. Cho đến khi công ty này bị ngừng sản xuất vào năm 1968, thì lượng xả thải ra Vịnh Minamata đã biến Vịnh này thay đổi hoàn toàn giống như một Vịnh chết.
Theo nghiên cứu của các chuyên gia Nhật Bản, bệnh Minamata là một căn bệnh vô cùng nguy hiểm được phát tác từ các loại thực vật, động vật bị ô nhiễm thủy ngân do quá trình sinh sống trong lưu vực Vịnh Minamata chịu tác động xả thải của Công ty công nghiệp hóa học Chisso.
Bệnh này được xác nhận vào năm 1956, trở thành căn bệnh đầu tiên của loài người do ảnh hưởng của thực vật, động vật ô nhiễm trong môi trường.
Đây là một trong những căn bệnh nguy hiểm nhất xuất hiện trong thời kỳ Nhật Bản đạt tăng trưởng kinh tế cao nhất, và cũng là căn bệnh làm nhiều ngưởi chết nhất.
Trong lịch sử Nhật Bản, căn bệnh Minamata xuất hiện 2 lần làm nhiều người chết. Đó là từ năm 1950-1960, Công ty hóa chất Chisso, chuyên sản xuất chất acetaldehyde từ năm 1932 đã xả nhiều chất thải chứa hàm lượng thủy ngân cao ra Vịnh Minamata (như đã nói ở trên), khiến cho nồng độ thủy ngân có trong cá cao, ảnh hưởng trực tiếp tới người dân khu vực này.
Năm 1960, một vụ nhiễm độc tương tự xảy ra ở lưu vực sông của tỉnh Niigata trên đảo Honshu, cách Kumamoto khoảng 1.000 km. Người ta gọi căn bênh này là Minamata Niigata. Nguyên nhân cũng là chất thải chứa thủy ngân của Công ty điện tử Showa gây ra.
Tại thời điểm đó, công ty Chisso có 7 nhà máy hoạt động trong nước Nhật và 20 nhà máy hoạt động tại nước ngoài.
![]() |
| Ảnh: sơ đồ mô tả chu trình từ nhà máy đến đời sống người dân. Bệnh Minamata sau khi ăn metyl thủy ngân có chứa thần kinh thiệt hại cá như mất thị lực , cực tê , mất thính giác, ... |
"Kỳ bệnh" và lượng thủy ngân khủng trong nước biển
Một câu hỏi lớn đặt ra là tại sao trong quá trình sản xuất lâu dài như thế từ năm 1932, mà tới sau những năm 1950 sự việc mới được phát hiện khi hàng loạt cá ở khu vực này chết, trong nhiều năm nguyên nhân không được xác định.
Lượng sản xuất chất acetaldehyde từ năm 1932-1954 của công ty nói trên tăng từ 209 lên tới 9.159 tấn, năm 1956 gấp 1,5 lần ở mức 15.919 tấn, và năm 1960 lên tới 45.244 tấn.
Bên cạnh đó, tại thời điểm bấy giờ các thiết bị máy móc cũ nát, kinh phí sản xuất bị cắt giảm nên việc xử lý chất thải là hầu như ít được chú trọng. Theo nghiên cứu gần đây, lượng thủy ngân chưa được xử lý trong giai đoạn mà Chisso thải ra Vịnh Minamata lúc bấy giờ theo từng giai đoạn là 0,6-6 tấn. Và mức độ nguy hiểm vẫn được nghiên cứu cho đến nay.
Bệnh nhiễm thủy ngân có thể làm giảm trí nhớ, làm giảm hoạt động của tiểu não, giảm thính lực và gây phát âm khó. Đây là kết luận đã được xác nhận khi kiểm tra và theo dõi bệnh cho 50 bệnh nhân.
Không những ảnh hưởng lên con người, mà bệnh Minamata do nhiễm chất thủy ngân đã làm cho mèo, quạ cũng chết hàng loạt. Ban đầu người ta không hiểu do nguyên nhân nào mà mèo, quạ lại chết nhiều như vậy. Nhân dân trong vùng lúc đó gọi là bệnh “mèo dại”. Và năm 1954, lần đầu tiên báo Kumamoto đã ra cảnh báo vì hiện tượng mèo chết hàng loạt.
Ngày 1/5/1956 trở thành sự kiện khi Nhật Bản công bố phát hiện ra bệnh Minamata trên cơ thể của bệnh nhân với kết luận tổn thương do hệ thần khinh trung ương nhưng không rõ nguyên nhân.
Đến 1954, có tới 12 người bị nhiễm bệnh này và có 5 người tử vong không rõ nguyên nhân. Nhiều ngư dân Nhật Bản lúc đó gọi đây là “kỳ bệnh”. Người bệnh lúc này còn mang thêm một nỗi khổ khác là bị kỳ thị, ghê sợ.
Năm 1956 có 50 người bị phát bệnh, trong đó có 11 người chết.
Năm 1957 căn bệnh này được xác định trên mèo chết do ăn các loài cá được đánh bắt ở Vịnh Minamata. Năm 1958, chính quyền địa phương Kumamoto chính thức cấm đánh bắt cá tại khu vực Vịnh Minamata.
Đến năm 1968 Chính phủ Nhật Bản mới xác nhận nguyên nhân bệnh Minamata do chất thải có chứa thủy ngân. Sự việc này đã được đưa lên tòa án Nhật Bản để xem xét với mục đích bảo vệ quyền lợi của hơn 2000 đã thiệt mạng một cách ấm ức ngay cả khi chưa rõ nguyên nhân, và hơn 13000 người vẫn đang bị ảnh hưởng.
Ký ức chết chóc và đau đớn
Hàng trăm người không có khả năng nhận thức, sống dự hoàn toàn vào bố mẹ. Nhiều bào thai không thể hình thành, nhiều người con sinh ra chân tay bị co quắp cho đến ngày nay. Ngay cả với những nhà nhiếp ảnh, bệnh Minamata là một kí ức kinh hoàng.
Đó là những hình ảnh người bệnh kêu la vì đau đớn, hình ảnh người co giật, sùi bọt mép, bại liệt cả đời sống trên xe lăn. Hay một số bệnh nhân bị mù, điếc, mất trí và mất thăng bằng.
Do mức độ nguy hiểm của bệnh Minamata, Bộ Môi trường Nhật Bản đã đưa ra một văn bản pháp lý với tên gọi “Tuyên truyền giáo dục về bệnh Minamata và cách phòng chống chất thủy ngân”.
Năm 2009, Chính phủ Nhật Bản cũng đưa ra một văn bản qui định việc cứu tế cho người bị thiệt hại do bệnh Minamata và giải quyết vấn đề bệnh này.
Những cuốn sách về bệnh Minamata, thân phận đau thương của những nạn nhân cho nhiễm thủy ngân vẫn được xuất bản. Thủy ngân là chất hóa học và những người sử dụng nó, dù vô tình hay hữu ý, để nó gây ảnh hưởng tới con người là tội ác.
Những người dân Nhật mang bệnh Minamata và cả những người không mang bệnh đang chiến đấu để bảo vệ sự sống của mình./.
Bùi Hùng/VOV
Subscribe to:
Posts (Atom)
Mới Nhất
Đọc Nhiều
-
Trịnh Công Sơn cùng với tiếng hát Khánh Ly đã gắn liền với tôi từ còn nhỏ xíu, cái thời còn thịnh hành băng cassette. Tôi "bị buột...
-
Chủ nghĩa tư bản sẽ còn phát triển hơn nữa, sẽ rất lâu nữa mới đến thời kỳ tột đỉnh của nó, và còn có nhiều sự điều chỉnh, thích nghi mỗ...
-
NewVnNews - Xin trân trọng giới thiệu đến bà con xứ Nghệ 500 trăm câu thành ngữ, tục ngữ và ca dao chọn lọc của xứ Nghệ Ti...
-
NewVnNews - Bài viết công phu của nhà báo Paul Mason đăng trên tờ The Guardian đặt ra một vấn đề tạo ra rất nhiều tranh cãi, nhưng đáng...
-
NewVnNews - Cách đây 67 năm, vào ngày 10 tháng 12 năm 1948, tai Paris – Thủ đô nước Pháp – Bản Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền đã ra đời...
-
GIẤC MƠ VIỆT NAM ! [Đang biên tập] "Hỡi đồng bào cả nước, Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quy...
-
BI KỊCH TRỊNH CÔNG SƠN. [Đang biên tập] Tôi gặp Trịnh Công Sơn vào năm 1958 tại Huế; lúc đó Sơn khoảng 17 tuổi và tôi 18 tuổi. Chúng tôi c...
-
(NewVnNew) Từ tháng 10 năm nay Nhật Bản sẽ bắt đầu triển khai chế độ quản lí công dân bằng 1 mã số duy nhất cho từng người dân, dùng c...
-
NGUYÊN TẮC VÀNG NUÔI CON KHỎE 1 Tắm cho bé: dưới 3 tháng tắm trước 10h - dưới 6 tháng tắm trước 12h - dưới 1 tuổi tắm trước 15h. dưới 3 tuổi...
-
NewVnNews - Từ “biệt phủ” mới xuất hiện gần đây trong tiếng Việt (có nhẽ là từ ngày có cái Việt phủ Thành Chương cũng nên?). Biệt phủ 20...





















