Chuyên Mục "Mẹ - Con"
Showing posts with label Mẹ - Con. Show all posts
NewVnNews - Táo bón là tình trạng trẻ đi poo poo cứng, và đi không thường xuyên. Tuy nhiên, tính chất phân và số lần đi cầu khác biệt ở từng trẻ. Đa số trẻ sẽ đi tiêu ít nhất một lần mỗi 2-3 ngày, nhưng có những trẻ có thói quen đường ruột khác biệt, và có thể đi cầu 1 lần một tuần – 10 ngày chẳng hạn. Chúng ta chỉ cần lo lắng về tính chất phân và số lần đi tiêu của trẻ nếu có những triệu chứng, dấu hiệu cho thấy trẻ bị ảnh hưởng vì một trong bốn tứ khoái của con người này.
Táo bón là một tình trạng xảy ra khá thường xuyên của con trẻ. Thống kê cho thấy có ít nhất 30% trẻ bị táo bón cần được quan tâm. Những dấu hiệu thường gặp để ba mẹ dẫn con đi khám là nếu trẻ lâu đi tiêu, poo poo lớn, cứng, đi cầu rặn đau, chảy máu, hoặc trẻ bị dây poo poo ra ngoài quần không kiểm soát được.
Táo bón là một tình trạng xảy ra khá thường xuyên của con trẻ. Thống kê cho thấy có ít nhất 30% trẻ bị táo bón cần được quan tâm. Những dấu hiệu thường gặp để ba mẹ dẫn con đi khám là nếu trẻ lâu đi tiêu, poo poo lớn, cứng, đi cầu rặn đau, chảy máu, hoặc trẻ bị dây poo poo ra ngoài quần không kiểm soát được.
NewVnNews - Bạn có biết? Tăng cân ở những năm đầu đời của trẻ:
Đa số các trẻ sinh ra có cân nặng lúc sinh từ 2.5 đến 4.5 kg.
Trong tuần đầu đời, trẻ thường sụt cân, khoảng 10% trọng lượng cơ thể ban đầu (vd như khi sinh ra được 3kg, thì sau 7 ngày tuổi, trẻ có thể chỉ còn khoảng 2.7kg)
Trẻ thường lấy lại cân nặng lúc sinh trong khoảng từ 10 ngày – 14 ngày tuổi.
Rất khó định nghĩa “tăng cân bình thường” ở trẻ nhỏ, tuy nhiên, những giá trị tăng cân sau được xem là khoảng tăng cân thông thường của trẻ:
• Từ 0 – 3 tháng tuổi, trẻ tăng được khoảng 150-200 gram / tuần (tức khoảng 20-30gram/ngày)
• Từ 3 tháng đến 6 tháng tuổi: trẻ tăng trung bình khoảng 100 gram đến 150 gram / tuần (tức khoảng 15-20gram mỗi ngày)
• Khi trẻ khoảng 6 tháng đến 12 tháng tuổi, tăng cân giảm còn khoảng 70-90gram/tuần (tức khoảng 10gram/ngày)
• Từ 1 tuổi đến 2 tuổi, trẻ tăng được khoảng 2-3 kg/năm
• Từ 2 tuổi đến 5 tuổi, trẻ tăng trung bình khoảng 2 kg mỗi năm.
Bs. Huyên Thảo
Đa số các trẻ sinh ra có cân nặng lúc sinh từ 2.5 đến 4.5 kg.
Trong tuần đầu đời, trẻ thường sụt cân, khoảng 10% trọng lượng cơ thể ban đầu (vd như khi sinh ra được 3kg, thì sau 7 ngày tuổi, trẻ có thể chỉ còn khoảng 2.7kg)
Trẻ thường lấy lại cân nặng lúc sinh trong khoảng từ 10 ngày – 14 ngày tuổi.
Rất khó định nghĩa “tăng cân bình thường” ở trẻ nhỏ, tuy nhiên, những giá trị tăng cân sau được xem là khoảng tăng cân thông thường của trẻ:
• Từ 0 – 3 tháng tuổi, trẻ tăng được khoảng 150-200 gram / tuần (tức khoảng 20-30gram/ngày)
• Từ 3 tháng đến 6 tháng tuổi: trẻ tăng trung bình khoảng 100 gram đến 150 gram / tuần (tức khoảng 15-20gram mỗi ngày)
• Khi trẻ khoảng 6 tháng đến 12 tháng tuổi, tăng cân giảm còn khoảng 70-90gram/tuần (tức khoảng 10gram/ngày)
• Từ 1 tuổi đến 2 tuổi, trẻ tăng được khoảng 2-3 kg/năm
• Từ 2 tuổi đến 5 tuổi, trẻ tăng trung bình khoảng 2 kg mỗi năm.
Bs. Huyên Thảo
NewVnNews - “Bác sĩ ơi, con em có bị hẹp bao qui đầu không vậy?” – đây là một câu hỏi thường gặp ở nhiều gia đình có bé trai, và không ít trường hợp, câu hỏi này được đưa ra trong lần gặp bác sĩ đầu tiên để khám tổng quát bé, thường trong khoảng 1-2 tháng tuổi. Nhiều cha mẹ ám ảnh chuyện hẹp bao qui đầu đến mức quyết tâm kéo ngược da qui đầu của trẻ, tự mình hoặc nhờ y bác sĩ, để thấy an tâm, nhưng không biết cách thực hành này có thể gây nguy hại không nhỏ về sau cho bé. Vì vậy, đề tài nói chuyện lần này là về lĩnh vực nhạy cảm nhưng gây không ít hiểu lầm và đau thương này của trẻ trai.
Hẹp bao qui đầu, theo định nghĩa, là khi da bao qui đầu – vùng da xung quay đầu chim – không kéo ngược lại được.
Thông tin quan trọng mà ba mẹ cần ghi nhớ, là tỉ lệ hẹp bao qui đầu thật – bệnh lý - cần can thiệp, là rất thấp, con số thống kê chỉ khoảng dưới 1%.
Một điều cần ghi nhớ nữa, là từ lúc bé sinh ra, da qui đầu của bé sẽ dính chặt vào thân chim, và sẽ từ từ tự tách ra khỏi thân chim khi bé lớn lên. Nếu muốn tưởng tượng, sẽ giống như bông chuối vậy, ban đầu khép thật chặt, sau đó các lớp vỏ cứng mới từ từ dang ra để lộ những trái chuối con. Nhưng ở người, sự tách này diễn ra khá chậm trãi. Khoảng 4 tuổi, 90% bé trai sẽ có da qui đầu tự tách ra, và đến tuổi dậy thì, 99% - gần hết – trẻ trai có da qui đầu tách ra, và có thể tự kéo ngược lại. Vì vậy, trong giai đoạn này, người ta gọi là “hẹp bao qui đầu sinh lý” – có nghĩa là một tình trạng bình thường. Người chăm sóc trẻ nên kiên nhẫn chờ đợi, và không nên suy nghĩ quá nhiều, hoặc manh động quá mức.
Việc cố tách da qui đầu của trẻ, kéo ngược lại, khi cơ thể trẻ chưa sẵn sàng, giống như bạn cố gắng tách các bẹ bông chuối ra khi bông còn khép kín. Điều này không những gây đau đớn cho trẻ, mà còn gây tổn thương và để lại sẹo về sau. Một số trường hợp khi cố kéo ngược da qui đầu, lại phải vào cấp cứu vì không kéo da qui đầu về vị trí ban đầu được do chim bé bị sưng, viêm. Một số trẻ bị sẹo do da qui đầu bị kéo ngược quá sớm, lại có thể bị hẹp bao qui đầu thật sự về sau, do sẹo thít chặt quanh chim. Có nghĩa là bạn tự gây ra tình trạng bạn muốn tránh cho con, một cách rất không cần thiết.
Một số người quan niệm phải kéo ngược da qui đầu để vệ sinh. Điều này cũng không đúng lắm. Chỉ đúng khi da qui đầu của bé đã tự tách ra, còn khi chưa tách, thì không cần vệ sinh làm gì. Một số trẻ có thể thấy những cục trắng, vàng ở dưới da qui đầu, nhưng đó chỉ là những tế bào chết từ da qui đầu thôi, hoàn toàn lành tính và không gây hại hoặc gây nhiễm trùng gì cả.
Rất nhiều ba mẹ đánh đồng việc hẹp bao qui đầu với việc phải cắt bao qui đầu cho trẻ, điều này không đúng. Việc quyết định cắt bao qui đầu vì hẹp bao qui đầu bệnh lý chiếm tỉ lệ rất ít. Nhiều nơi trên thế giới, việc cắt bao qui đầu là một quan niêm về văn hóa, niềm tin. Nhiều nơi khác, cắt bao qui đầu là một lực chọn của người chăm sóc trẻ, nhưng không phải là một chuyện bắt buộc. Lựa chọn này có, là do có bằng chứng cho thấy việc cắt bao qui đầu của trẻ có liên quan đến việc giảm nguy cơ nhiễm trùng tiểu, nguy cơ bị các bệnh lây nhiễm qua đường tình dục, nguy cơ ung thư dương vật khi trẻ trưởng thành.
Tuy nhiên, đây vẫn là lựa chọn có-không của ba mẹ và người chăm sóc trẻ, vì khi thực hiện thủ thuật cắt bao qui đầu cần phải gây mê, gây đau đớn, sợ hãi, có nguy cơ nhiễm trùng, biến chứng từ thủ thuật, cũng như cũng có thể sang chấn tâm lý cho trẻ ở một số trường hợp.
Một điều ba mẹ cần lo, nhưng không thấy ai lo, là lỗ tiểu có mọc ở đúng vị trí không. Điều này thường được kiểm tra khi trẻ được khám tổng quát lúc mới sinh, hoặc khi trẻ được 2-4 tháng tuổi. Lỗ tiểu đúng chỗ là tại đầu chim. Nếu các bạn thấy bé đi tiểu mà nước tiểu không ra từ đầu chim, mà lại ra ở thân dưới hoặc thân trên của dương vật, thì nên cho bé đi khám bác sĩ ngay nhé.
Tóm lại, đây là một số điểm cần ghi nhớ:
1. Không được cố gắng kéo ngược bao qui đầu để vệ sinh. Không cần vệ sinh bên trong da qui đầu ở trẻ nhỏ
2. Đa số các trẻ sẽ có tình trạng hẹp bao qui đầu sinh lý – điều này là bình thường. Da qui đầu sẽ tự tách khỏi chim dần dần, và xảy ra ở gần như tất cả các bé trai trong giai đoạn dậy thì.
3. Hẹp bao qui đầu bệnh lý rất ít gặp, chiếm dưới 1% dân số nam
4. Nên cho trẻ đi khám bác sĩ nếu sau khi dậy thì (14-15 tuổi) mà bao qui đầu chưa tự tách, hoặc nếu trẻ khó chịu, đau khi đi tè.
5. Cắt bao qui đầu là một điều trị cho hẹp bao qui đầu bệnh lý, nhưng chúng ta cũng có thể chọn cắt bao qui đầu cho trẻ vì có một số lợi ích nhất định. Nên cân nhắc giữa những lợi ích và bất lợi (biến chứng, đau…) ở từng trường hợp khi quyết định cắt bao qui đầu.
Bs. Huyên Thảo.
Hẹp bao qui đầu, theo định nghĩa, là khi da bao qui đầu – vùng da xung quay đầu chim – không kéo ngược lại được.
Thông tin quan trọng mà ba mẹ cần ghi nhớ, là tỉ lệ hẹp bao qui đầu thật – bệnh lý - cần can thiệp, là rất thấp, con số thống kê chỉ khoảng dưới 1%.
Một điều cần ghi nhớ nữa, là từ lúc bé sinh ra, da qui đầu của bé sẽ dính chặt vào thân chim, và sẽ từ từ tự tách ra khỏi thân chim khi bé lớn lên. Nếu muốn tưởng tượng, sẽ giống như bông chuối vậy, ban đầu khép thật chặt, sau đó các lớp vỏ cứng mới từ từ dang ra để lộ những trái chuối con. Nhưng ở người, sự tách này diễn ra khá chậm trãi. Khoảng 4 tuổi, 90% bé trai sẽ có da qui đầu tự tách ra, và đến tuổi dậy thì, 99% - gần hết – trẻ trai có da qui đầu tách ra, và có thể tự kéo ngược lại. Vì vậy, trong giai đoạn này, người ta gọi là “hẹp bao qui đầu sinh lý” – có nghĩa là một tình trạng bình thường. Người chăm sóc trẻ nên kiên nhẫn chờ đợi, và không nên suy nghĩ quá nhiều, hoặc manh động quá mức.
Việc cố tách da qui đầu của trẻ, kéo ngược lại, khi cơ thể trẻ chưa sẵn sàng, giống như bạn cố gắng tách các bẹ bông chuối ra khi bông còn khép kín. Điều này không những gây đau đớn cho trẻ, mà còn gây tổn thương và để lại sẹo về sau. Một số trường hợp khi cố kéo ngược da qui đầu, lại phải vào cấp cứu vì không kéo da qui đầu về vị trí ban đầu được do chim bé bị sưng, viêm. Một số trẻ bị sẹo do da qui đầu bị kéo ngược quá sớm, lại có thể bị hẹp bao qui đầu thật sự về sau, do sẹo thít chặt quanh chim. Có nghĩa là bạn tự gây ra tình trạng bạn muốn tránh cho con, một cách rất không cần thiết.
Một số người quan niệm phải kéo ngược da qui đầu để vệ sinh. Điều này cũng không đúng lắm. Chỉ đúng khi da qui đầu của bé đã tự tách ra, còn khi chưa tách, thì không cần vệ sinh làm gì. Một số trẻ có thể thấy những cục trắng, vàng ở dưới da qui đầu, nhưng đó chỉ là những tế bào chết từ da qui đầu thôi, hoàn toàn lành tính và không gây hại hoặc gây nhiễm trùng gì cả.
Rất nhiều ba mẹ đánh đồng việc hẹp bao qui đầu với việc phải cắt bao qui đầu cho trẻ, điều này không đúng. Việc quyết định cắt bao qui đầu vì hẹp bao qui đầu bệnh lý chiếm tỉ lệ rất ít. Nhiều nơi trên thế giới, việc cắt bao qui đầu là một quan niêm về văn hóa, niềm tin. Nhiều nơi khác, cắt bao qui đầu là một lực chọn của người chăm sóc trẻ, nhưng không phải là một chuyện bắt buộc. Lựa chọn này có, là do có bằng chứng cho thấy việc cắt bao qui đầu của trẻ có liên quan đến việc giảm nguy cơ nhiễm trùng tiểu, nguy cơ bị các bệnh lây nhiễm qua đường tình dục, nguy cơ ung thư dương vật khi trẻ trưởng thành.
Tuy nhiên, đây vẫn là lựa chọn có-không của ba mẹ và người chăm sóc trẻ, vì khi thực hiện thủ thuật cắt bao qui đầu cần phải gây mê, gây đau đớn, sợ hãi, có nguy cơ nhiễm trùng, biến chứng từ thủ thuật, cũng như cũng có thể sang chấn tâm lý cho trẻ ở một số trường hợp.
Một điều ba mẹ cần lo, nhưng không thấy ai lo, là lỗ tiểu có mọc ở đúng vị trí không. Điều này thường được kiểm tra khi trẻ được khám tổng quát lúc mới sinh, hoặc khi trẻ được 2-4 tháng tuổi. Lỗ tiểu đúng chỗ là tại đầu chim. Nếu các bạn thấy bé đi tiểu mà nước tiểu không ra từ đầu chim, mà lại ra ở thân dưới hoặc thân trên của dương vật, thì nên cho bé đi khám bác sĩ ngay nhé.
Tóm lại, đây là một số điểm cần ghi nhớ:
1. Không được cố gắng kéo ngược bao qui đầu để vệ sinh. Không cần vệ sinh bên trong da qui đầu ở trẻ nhỏ
2. Đa số các trẻ sẽ có tình trạng hẹp bao qui đầu sinh lý – điều này là bình thường. Da qui đầu sẽ tự tách khỏi chim dần dần, và xảy ra ở gần như tất cả các bé trai trong giai đoạn dậy thì.
3. Hẹp bao qui đầu bệnh lý rất ít gặp, chiếm dưới 1% dân số nam
4. Nên cho trẻ đi khám bác sĩ nếu sau khi dậy thì (14-15 tuổi) mà bao qui đầu chưa tự tách, hoặc nếu trẻ khó chịu, đau khi đi tè.
5. Cắt bao qui đầu là một điều trị cho hẹp bao qui đầu bệnh lý, nhưng chúng ta cũng có thể chọn cắt bao qui đầu cho trẻ vì có một số lợi ích nhất định. Nên cân nhắc giữa những lợi ích và bất lợi (biến chứng, đau…) ở từng trường hợp khi quyết định cắt bao qui đầu.
Bs. Huyên Thảo.
NewVnNews
NewVnNews - Nguyên nhân gây hăm tã thường gặp nhất ở trẻ nhỏ là do sự kích thích gây tổn thương da. Da bị ẩm ướt và bị cọ sát liên tục với tã có thể bị tổn thương. Vi trùng, nấm, các loại xà bông giặt, nước tiểu và phân càng làm tệ hơn tình trạng này
Những nhân tố làm hăm tã tệ hơn là:
• Phân lỏng nước (khi bé bị tiêu chảy )
• Không thay tả đủ thường xuyên
• Cho trẻ mặc quần nilon.
Đa số trẻ hết bị hăm tả khi bắt đầu tập ngồi bô
Dấu hiệu và triệu chứng của hăm tã:
• Da vùng tã thường nhìn đỏ, và có thể có những hạt đỏ đi kèm, đặc biệt ở vùng biên của sẩn
• Có thể bị đau hoặc ngứa khi lau vùng tã hăm
• Trẻ có thể bị khó chịu, quấy khóc
Chăm sóc tại nhà
• Tốt nhất là nên dùng tả dùng một lần loại tốt cho trẻ. Tả dùng một lần hút ẩm nhanh, giữ cho da được khô. Tã vải tốt cho môi trường, nhưng lại không hút ẩm tốt bằng.
• Nên thay tả thường xuyên (khoảng 5-7 lần một ngày ở trẻ dưới 12 tháng tuổi ), để giảm thời gian da trẻ phải tiếp xúc với nước tiểu và phân.
• Mỗi lần thay tả, nên lau vùng mông trẻ nhẹ nhàng bằng khăn bông thấm nước ấm, hoặc các loại khăn lau loại “chux”. Các loại khăn ướt mua tại siêu thị có thể gây kích thích da và không nên dùng.
• Kem chống hăm nên được thoa ở mỗi lần thay tả. Việc bôi kem này sẽ bảo vệ da khỏi bị ẩm và tránh cho da khỏi tiếp xúc với các chất làm tổn thương da. Kem kẽm là tốt nhất, hoặc các loại kem nến trắng mềm cũng tốt. Nếu kem bạn dùng rất dễ lau sạch, nên thay bằng một loại kem khác, bởi chúng ta cần tạo một lớp chắn tốt cho da bé.
• Cố gắng cho trẻ có thời gian không dùng tả càng nhiều càng tốt
• Không nên dùng các loại phấn trẻ em cho hăm tã
Có nhiểu loại sẩn da khác nhau có thể hiện diện ở vùng tã và có thể không gây ra do tã. Một số tình trạng, như viêm da dị ứng hoặc nhiễm trùng da có thể xảy ra ở vùng cơ thể bất kỳ. Những sẩn này sẽ không cái thiện khi điều trị hăm tã. Nên cho trẻ đi khám bác sĩ nếu vùng sẩn không cải thiện
Điều trị
• Hăm tã kéo dài,không đáp ứng với các loại kem trị hăm tã, có thể phải cần điều trị bằng những loại kem thuốc đặc hiệu. Nên cho trẻ đi khám bác sĩ để có quyết định điều trị đúng.
• Không nên dùng các dung dịch sát khuẩn cho hăm tã
• Nên cho trẻ đi tác khám nếu sẫn không cải thiện trong 1-2 tuần.
Những thông tin cần ghi nhớ
• Hăm tả làm cho da trẻ đỏ và đau. Bé có thể khó chịu và quấy khóc.
• Phòng ngừa hăm tả là việc quan trọng nhất. Nên giữ da trẻ sạch và khô bằng cách thay tã thường xuyên.
• Dùng kem phủ để tránh nước tiểu và phân tiếp xúc với da
• Tả mặc một lần loại tốt là tốt nhất. Nên cho trẻ có thời gian không mặc tã để giúp giảm hăm tả.
Bs. Huyên Thảo
Theo: Parent’s Information – Nappy Rash - Royal Children’s Hospital, Melbourne, Australia
Những nhân tố làm hăm tã tệ hơn là:
• Phân lỏng nước (khi bé bị tiêu chảy )
• Không thay tả đủ thường xuyên
• Cho trẻ mặc quần nilon.
Đa số trẻ hết bị hăm tả khi bắt đầu tập ngồi bô
Dấu hiệu và triệu chứng của hăm tã:
• Da vùng tã thường nhìn đỏ, và có thể có những hạt đỏ đi kèm, đặc biệt ở vùng biên của sẩn
• Có thể bị đau hoặc ngứa khi lau vùng tã hăm
• Trẻ có thể bị khó chịu, quấy khóc
Chăm sóc tại nhà
• Tốt nhất là nên dùng tả dùng một lần loại tốt cho trẻ. Tả dùng một lần hút ẩm nhanh, giữ cho da được khô. Tã vải tốt cho môi trường, nhưng lại không hút ẩm tốt bằng.
• Nên thay tả thường xuyên (khoảng 5-7 lần một ngày ở trẻ dưới 12 tháng tuổi ), để giảm thời gian da trẻ phải tiếp xúc với nước tiểu và phân.
• Mỗi lần thay tả, nên lau vùng mông trẻ nhẹ nhàng bằng khăn bông thấm nước ấm, hoặc các loại khăn lau loại “chux”. Các loại khăn ướt mua tại siêu thị có thể gây kích thích da và không nên dùng.
• Kem chống hăm nên được thoa ở mỗi lần thay tả. Việc bôi kem này sẽ bảo vệ da khỏi bị ẩm và tránh cho da khỏi tiếp xúc với các chất làm tổn thương da. Kem kẽm là tốt nhất, hoặc các loại kem nến trắng mềm cũng tốt. Nếu kem bạn dùng rất dễ lau sạch, nên thay bằng một loại kem khác, bởi chúng ta cần tạo một lớp chắn tốt cho da bé.
• Cố gắng cho trẻ có thời gian không dùng tả càng nhiều càng tốt
• Không nên dùng các loại phấn trẻ em cho hăm tã
Có nhiểu loại sẩn da khác nhau có thể hiện diện ở vùng tã và có thể không gây ra do tã. Một số tình trạng, như viêm da dị ứng hoặc nhiễm trùng da có thể xảy ra ở vùng cơ thể bất kỳ. Những sẩn này sẽ không cái thiện khi điều trị hăm tã. Nên cho trẻ đi khám bác sĩ nếu vùng sẩn không cải thiện
Điều trị
• Hăm tã kéo dài,không đáp ứng với các loại kem trị hăm tã, có thể phải cần điều trị bằng những loại kem thuốc đặc hiệu. Nên cho trẻ đi khám bác sĩ để có quyết định điều trị đúng.
• Không nên dùng các dung dịch sát khuẩn cho hăm tã
• Nên cho trẻ đi tác khám nếu sẫn không cải thiện trong 1-2 tuần.
Những thông tin cần ghi nhớ
• Hăm tả làm cho da trẻ đỏ và đau. Bé có thể khó chịu và quấy khóc.
• Phòng ngừa hăm tả là việc quan trọng nhất. Nên giữ da trẻ sạch và khô bằng cách thay tã thường xuyên.
• Dùng kem phủ để tránh nước tiểu và phân tiếp xúc với da
• Tả mặc một lần loại tốt là tốt nhất. Nên cho trẻ có thời gian không mặc tã để giúp giảm hăm tả.
Bs. Huyên Thảo
Theo: Parent’s Information – Nappy Rash - Royal Children’s Hospital, Melbourne, Australia
NewVnNews
NewVnNews - Sốt cao co giật là một tình trạng co giật gây ra do thay đổi đột ngột thân nhiệt của trẻ, và thường xảy ra khi trẻ sốt cao trên 38 độ C. Đây là một chẩn đoán loại trừ của các y bác sĩ, khi không tìm thấy những bệnh nguy hiểm khác vừa gây sốt, vừa gây co giật cho trẻ.
Sốt cao co giật có phổ biến không?
• 1 trong 30-40 trẻ sẽ bị sốt cao co giật ít nhất 1 lần, thường xảy ra trong khoảng tuổi từ 6 tháng đến 6 tuổi
Sốt cao co giật có nguy hiểm không?
• Câu trả lời là không.
• Sốt cao co giật, mặc dù biểu hiện có thể làm chúng ta rất lo lắng, nhưng thực sự là một tình trạng rất lành tính. Đa số các trẻ chỉ bị sốt cao co giật một lần trong đời. Một số trẻ có thể bị nhiều hơn 1 lần sốt cao co giật. Tuy nhiên, sốt cao co giật không làm tăng nguy cơ trẻ bị động kinh về sau, cũng không ảnh hưởng đến trí thông minh của trẻ khi trẻ trưởng thành.
Triệu chứng và dấu hiệu:
Trong đợt sốt cao co giật:
• Trẻ thường sẽ bất tỉnh
• Cơ gồng cứng hoặc giật
• Trẻ có thể đỏ mặc hoặc xanh mặt
• Cơn co giật có thể diễn ra trong vài phút, đa phần dưới 15 phút
• Khi hết co giật, trẻ sẽ tỉnh lại, nhưng có thể sẽ buồn ngủ hoặc hơi quấy khóc ban đầu.
Cần làm gì trong cơn co giật:
• Nên nhớ: bạn không thể làm gì để cắt cơn co giật của trẻ
• Điều quan trọng nhất là giữ bình tĩnh
• Đặt trẻ trên nền mềm, nằm ngửa hoặc nằm nghiêng bên
• Đừng giữ chặt trẻ
• Không được đưa bất kỳ vật gì hoặc chất lỏng/thuốc gì vào miệng trẻ, kể cả ngón tay của bạn – Trẻ sẽ không nghẹt hoặc nuốt lưỡi trong cơn co giật
• Cố gắng ghi nhận những gì xảy ra, để có thể mô tả cho bác sĩ sau này
• Tính thời gian co giật của trẻ
Nên cho trẻ vào cấp cứu nếu:
• Trẻ co giật hơn 5 phút
• Trẻ không thức dậy khi xong cơn co giật, hoặc nhìn rất mệt khi xong cơn co giật
Nếu cơn co giật ngắn hơn 5 phút: nên khám bác sĩ càng sớm càng tốt.
Điều trị sốt:
• Vì sốt là phản ứng tự nhiên của cơ thể với nhiễm trùng, không phải lúc nào cũng cần phải giảm sốt.
• GIẢM SỐT ( BẰNG PARACETAMOL HOẶC IBUPROFEN) KHÔNG NGỪA ĐƯỢC CƠN SỐT CAO CO GIẬT!!!!!
• Chỉ dùng hạ sốt với mục tiêu căn bản là giảm đau / làm cho trẻ dễ chịu hơn, như ở những trường hợp sốt khác (xem bài SỐT)
Theo dõi sau sốt cao co giật:
• Hầu hết trẻ có sốt cao co giật không có những vấn đề sức khỏe mãn tính đi kèm. Thường các trẻ này là những trẻ hoàn toàn khỏe mạnh và ngưng bị sốt cao co giật khi được 6 tuổi.
• Nếu con bạn có những cơn co giật kéo dài, tái đi tái lại, nên khám bác sĩ chuyên khoa.
Những điểm chính cần ghi nhớ:
• 1 trong 30-40 trẻ sẽ có sốt cao co giật , thường vào khoảng 6 tháng đến 6 tuổi
• KHÔNG CÓ PHƯƠNG PHÁP NÀO PHÒNG NGỪA CƠN SỐT CAO CO GIẬT – nên giữ bình tĩnh, không hoảng sợ
• Sốt cao co giật không gây tổn thương não. Ngay cả những cơn co giật kéo dài 1 giờ hơn cũng gần như không bao giờ gây hại cho trẻ.
• Nếu cơn co giật dài hơn 5 phút, nên cho trẻ đi cấp cứu
• Nếu bạn lo lắng về điều gì khác, nên đi khám bác sĩ.
Bs. Huyên Thảo
Nguồn thông tin:
1. Sốt cao co giật – thông tin cho gia đình – bệnh viện Royal Children’s Hospital, Melbourne
2. Antipyretics do not prevent febrile convulsions – AAP Grand Rounds Vol.10, No.4, 2003
3. Do antipyretics prevent the recurrence of febrile seizures in children? A systematic review of randomized controlled trials and meta-analysis ; Eu J Paediatr Neurol; 17(6):585-588; 2013
4. Prophylactic drug management for febrile seizures in children; Cochrane Database systematic reviews; 4: CD003031; 2012.
Sốt cao co giật có phổ biến không?
• 1 trong 30-40 trẻ sẽ bị sốt cao co giật ít nhất 1 lần, thường xảy ra trong khoảng tuổi từ 6 tháng đến 6 tuổi
Sốt cao co giật có nguy hiểm không?
• Câu trả lời là không.
• Sốt cao co giật, mặc dù biểu hiện có thể làm chúng ta rất lo lắng, nhưng thực sự là một tình trạng rất lành tính. Đa số các trẻ chỉ bị sốt cao co giật một lần trong đời. Một số trẻ có thể bị nhiều hơn 1 lần sốt cao co giật. Tuy nhiên, sốt cao co giật không làm tăng nguy cơ trẻ bị động kinh về sau, cũng không ảnh hưởng đến trí thông minh của trẻ khi trẻ trưởng thành.
Triệu chứng và dấu hiệu:
Trong đợt sốt cao co giật:
• Trẻ thường sẽ bất tỉnh
• Cơ gồng cứng hoặc giật
• Trẻ có thể đỏ mặc hoặc xanh mặt
• Cơn co giật có thể diễn ra trong vài phút, đa phần dưới 15 phút
• Khi hết co giật, trẻ sẽ tỉnh lại, nhưng có thể sẽ buồn ngủ hoặc hơi quấy khóc ban đầu.
Cần làm gì trong cơn co giật:
• Nên nhớ: bạn không thể làm gì để cắt cơn co giật của trẻ
• Điều quan trọng nhất là giữ bình tĩnh
• Đặt trẻ trên nền mềm, nằm ngửa hoặc nằm nghiêng bên
• Đừng giữ chặt trẻ
• Không được đưa bất kỳ vật gì hoặc chất lỏng/thuốc gì vào miệng trẻ, kể cả ngón tay của bạn – Trẻ sẽ không nghẹt hoặc nuốt lưỡi trong cơn co giật
• Cố gắng ghi nhận những gì xảy ra, để có thể mô tả cho bác sĩ sau này
• Tính thời gian co giật của trẻ
Nên cho trẻ vào cấp cứu nếu:
• Trẻ co giật hơn 5 phút
• Trẻ không thức dậy khi xong cơn co giật, hoặc nhìn rất mệt khi xong cơn co giật
Nếu cơn co giật ngắn hơn 5 phút: nên khám bác sĩ càng sớm càng tốt.
Điều trị sốt:
• Vì sốt là phản ứng tự nhiên của cơ thể với nhiễm trùng, không phải lúc nào cũng cần phải giảm sốt.
• GIẢM SỐT ( BẰNG PARACETAMOL HOẶC IBUPROFEN) KHÔNG NGỪA ĐƯỢC CƠN SỐT CAO CO GIẬT!!!!!
• Chỉ dùng hạ sốt với mục tiêu căn bản là giảm đau / làm cho trẻ dễ chịu hơn, như ở những trường hợp sốt khác (xem bài SỐT)
Theo dõi sau sốt cao co giật:
• Hầu hết trẻ có sốt cao co giật không có những vấn đề sức khỏe mãn tính đi kèm. Thường các trẻ này là những trẻ hoàn toàn khỏe mạnh và ngưng bị sốt cao co giật khi được 6 tuổi.
• Nếu con bạn có những cơn co giật kéo dài, tái đi tái lại, nên khám bác sĩ chuyên khoa.
Những điểm chính cần ghi nhớ:
• 1 trong 30-40 trẻ sẽ có sốt cao co giật , thường vào khoảng 6 tháng đến 6 tuổi
• KHÔNG CÓ PHƯƠNG PHÁP NÀO PHÒNG NGỪA CƠN SỐT CAO CO GIẬT – nên giữ bình tĩnh, không hoảng sợ
• Sốt cao co giật không gây tổn thương não. Ngay cả những cơn co giật kéo dài 1 giờ hơn cũng gần như không bao giờ gây hại cho trẻ.
• Nếu cơn co giật dài hơn 5 phút, nên cho trẻ đi cấp cứu
• Nếu bạn lo lắng về điều gì khác, nên đi khám bác sĩ.
Bs. Huyên Thảo
Nguồn thông tin:
1. Sốt cao co giật – thông tin cho gia đình – bệnh viện Royal Children’s Hospital, Melbourne
2. Antipyretics do not prevent febrile convulsions – AAP Grand Rounds Vol.10, No.4, 2003
3. Do antipyretics prevent the recurrence of febrile seizures in children? A systematic review of randomized controlled trials and meta-analysis ; Eu J Paediatr Neurol; 17(6):585-588; 2013
4. Prophylactic drug management for febrile seizures in children; Cochrane Database systematic reviews; 4: CD003031; 2012.
NewVnNews
NewVnNews - Bệnh tay chân miệng là một bệnh nhiễm virus khá phổ biến ở trẻ em, đặc biệt là trẻ nhỏ. Bệnh được đặc trưng, như tên gọi, bởi các sẩn da dạng bóng nước ở tay, chân, mông, gối, khủy tay, và những vết loét ở miệng.
Tại Việt Nam, bệnh xảy ra quanh năm.
Bệnh tay chân miệng ở người hoàn toàn khác với bệnh lở mồm long móng ở súc vật như heo, trâu bò, cừu. Hai bệnh này không liên quan gì đến nhau, và gây ra bởi hai nhóm virus hoàn toàn khác nhau.
Bệnh tay chân miệng gây ra bởi một nhóm virus có tên là enterovirus, nhóm này có nhiều chủng nhỏ khác nhau. Coxsakievirus A16 là virus gây bệnh phổ biến nhất, bệnh với virus này thường nhẹ, tự hết và ít biến chứng. Enterovirus, đặc biệt là Enterovirus 71, là loại thường có liên quan đến những biến chứng nguy hiểm, và tử vong, tuy nhiên, số ca do virus này gây ra không nhiều.
Bệnh tay chân miệng có nghiêm trọng không?
• Đa số các trường hợp bị tay chân miệng phục hồi hoàn toàn, không biến chứng trong 7-10 ngày.
• Mất nước là biến chứng phổ biến nhất của tay chân miệng do Coxsackievirus, do trẻ bị đau miệng và không chịu ăn uống gì.
• Trong một số ít trường hợp, đặc biệt các ca do Enterovirus 71, bệnh có thể có biến chứng viêm màng não, viêm não, và có thể trở nên nghiêm trọng.
Diễn tiến bệnh, dấu hiệu và triệu chứng:
• Bệnh tay chân miệng rất dễ lây, vì bệnh lây từ người này sang người khác qua tiếp xúc trực tiếp với dịch mũi, miệng, nước miếng, dịch từ các bong nước, và phân của người bệnh. Người bị bệnh thường dễ lây cho người khác nhất trong tuần đầu tiên của bệnh. Bệnh tay chân miệng không truyền qua người từ nguồn súc vật hoặc thú nuôi trong nhà.
• Bệnh tay chân miệng đa số xảy ra ở trẻ dưới 10 tuổi, phổ biến nhất ở trẻ dưới 5 tuổi. Trẻ càng nhỏ càng dễ có triệu chứng nặng hơn. Đa số người lớn đã có miễn dịch đầy đủ nên ít bị bệnh hơn, nhưng cũng có những ca tay chân miệng được báo cáo ở trẻ vị thành niên và người trưởng thành.
• Thông thường, thời gian ủ bệnh là 3-7 ngày.
• Khi phát bệnh, sốt là triệu chứng thường gặp đầu tiên, và trẻ thường chỉ sốt trong 1-2 ngày đầu. Khi đó, trẻ cũng có những dấu hiệu rất chung chung, không đặc hiệu, như kém ăn, mệt mỏi, và thường than đau họng (nhưng chưa có loét).
• 1-2 ngày sau khi bắt đầu sốt, trẻ bắt đầu có những vết chấm đỏ trong miệng, dần phát triển thành bong nước và vỡ ra thành vết loét. Những vết loét này thường xuất hiện ở lưỡi, lợi, và vòm hầu, họng, mặt trong má.
• Sẩn da cũng xuất hiện trong thời gian này, với những chấm đỏ, phẳng hoặc gồ lên, và nhiều khi phát triển thành bóng nước, thường phân bố ở lòng bàn tay, lòng bàn chân, mông, vùng khủy tay và đầu gối.
• Một số ít trường hợp, khi trẻ bị biến chứng nặng, sẽ có những dấu hiệu thần kinh và hệ thống. Đây là những trẻ cần được theo dõi sát và được quyết định điều trị chuyên biệt kịp thời.
Những dấu hiệu được xem là quan trọng mà ba mẹ cần nhận biết để cho trẻ đến tái khám ngay, bao gồm:
• Sốt từ 39 độ C trở lên, hoặc trên 2 ngày.
• Ói nhiều
• Đừ nhiều
• Thở nhanh / thở khó
• Quấy khóc, bứt rứt
• Giật mình hốt hoảng nhiều lần
• Run giật cơ
• Yếu chi
• Mất thăng bằng khi đi đứng
• Da nổi bông
• Nếu ba mẹ có bất kỳ điều gì lo lắng
Điều trị bệnh tay chân miệng như thế nào?
Như đã nói ở trên, đây là một bệnh do virus, và thường tự hết, nên đa số các trẻ chỉ cần điều trị hỗ trợ trong thời gian bệnh để chờ tự hết. Trẻ bị viêm loét miệng lưỡi rất đau, vì vậy trẻ rất quấy, than khóc, và không chịu ăn uống gì, do đó dễ bị mất nước, hạ đường huyết. Những trẻ này cần được cho giảm đau, và khuyến khích ăn uống chậm, ít lại, nhiều lần hơn, với những thức ăn lỏng, mềm, dễ nuốt, và cho uống nhiều nước. Nhiều trẻ sẽ chịu đồ lạnh hơn, vì có thể làm giảm đau ở vết loét cho trẻ. Không cần tránh các thức ăn, thức uống lạnh, như nước đá, kem, yaourt…, mà ngược lại, có thể thử cho trẻ những thức này, để xem trẻ có dễ chịu hơn phần nào hay không.
Đối với những trường hợp nghi ngờ bị biến chứng thần kinh, hoặc có những dấu hiệu, tiêu chuẩn nghi ngờ khả năng/nguy cơ bị biến chứng thần kinh cao, các bác sĩ sẽ quyết định cho trẻ nhập viện để bắt đầu điều trị hỗ trợ chuyên biệt, hoặc để có thể theo dõi sát các dấu hiệu nặng nhằm can thiệp kịp thời. Vì khi trẻ bị biến chứng thần kinh, bệnh có thể diễn tiến rất nhanh và rất trầm trọng, mà nếu phát hiện trễ, qua “thời điểm vàng”, các can thiệp chuyên sâu sẽ không được hữu hiệu bằng, và vì vậy, hệ quả bệnh sẽ không được tối ưu.
Khi bị bệnh rồi, có bị bệnh lại nữa được không?
Khi một người bị bệnh tay chân miệng, sau đợt bệnh này, chỉ phát triển miễn dịch chống lại Virus gây đợt bệnh này mà thôi. Trong khi đó, nhóm enterovirus bao gồm rất nhiều loại virus khác nhau, vì vậy, người đó vẫn có thể bị lại bệnh tay chân miệng, nhưng gây ra bởi loại virus khác so với virus ban đầu.
Có thể phòng ngừa bệnh tay chân miệng không?
HIện nay không có thuốc giết virus đặc hiệu, cũng như không có vaccine nào để phòng ngừa bệnh. Tuy nhiên, nguy cơ bị nhiễm bệnh có thể được giảm đi nếu chúng ta thực hiện những phương pháp vệ sinh tốt, như:
• Thường xuyên rửa tay bằng xà phòng, đặc biệt là sau khi chạm vào những vết loét, bóng nước của người bị bệnh, trước khi sửa soạn thức ăn, trước khi ăn, trước khi cho trẻ ăn, và sau khi sử dụng toilet và sau khi thay tả cho trẻ.
• Lau sạch những bề mặt và những đồ chơi có thể “bị nhiễm”, bằng xà phòng và nước trước, sau đó tiệt trùng bằng nước tẩy rửa chứa chlor (chlorine) pha loãng.
• Tránh tiếp xúc gần, như ôm hôn, dùng chung muỗng nĩa, chén, với người bệnh.
• Không cho trẻ đi học, hoặc đến các nơi vui chơi, tập trung của các trẻ nhỏ (công viên vui chơi, nhà banh, hồ bơi…) cho đến khi trẻ hết bệnh hoàn toàn (thường sau 7-10 ngày sau khi khởi bệnh).
• Dạy trẻ che miệng, mũi khi ho hoặc hắt xì
• Bỏ các tả dơ, giấy chùi, khăn ướt khi chăm sóc trẻ bệnh vào bịch rác và đậy lại kỹ càng.
• Giữ sạch nhà cửa, trường học, hoặc trường mẫu giáo.
Những thông tin cần ghi nhớ:
• Bệnh tay chân miệng thường xảy ra ở trẻ em, đặc biệt là trẻ nhỏ. Trẻ càng nhỏ càng dễ bị triệu chứng nặng hơn.
• Đa số các trường hợp tự hết trong khoảng 7 ngày, và chỉ cần điều trị hỗ trợ. Chú ý khuyến khích cho trẻ ăn uống để tránh mất nước.
• Một số ít trường hợp có nguy cơ biến chứng thần kinh sẽ được tư vấn nhập viên để theo dõi và can thiệp điều trị kịp thời.
• Trẻ bệnh dễ lây bệnh cho trẻ khác, nhất là trong 7 ngày từ khi phát bệnh, vì vậy nên cách ly trẻ khỏi trường và khu vui chơi.
• Nên theo dõi sát trẻ khi chăm sóc tại nhà, để có thể nhận biết các dấu hiệu nguy hiểm và cho trẻ tái khám đúng lúc.
• Rửa tay và giữ vệ sinh tốt, hạn chế tiếp xúc với dịch cơ thể của người bệnh, là biện pháp phòng ngừa hữu hiệu nhất.
Bs. Huyên Thảo.
Nguồn tham khảo:
• World Health Organization: Hand, Foot and Mouth Disease Information Sheet
• World Health Organization: A guide to clinical management and public health response for Hand, Foot and Mouth disease.
Tại Việt Nam, bệnh xảy ra quanh năm.
Bệnh tay chân miệng ở người hoàn toàn khác với bệnh lở mồm long móng ở súc vật như heo, trâu bò, cừu. Hai bệnh này không liên quan gì đến nhau, và gây ra bởi hai nhóm virus hoàn toàn khác nhau.
Bệnh tay chân miệng gây ra bởi một nhóm virus có tên là enterovirus, nhóm này có nhiều chủng nhỏ khác nhau. Coxsakievirus A16 là virus gây bệnh phổ biến nhất, bệnh với virus này thường nhẹ, tự hết và ít biến chứng. Enterovirus, đặc biệt là Enterovirus 71, là loại thường có liên quan đến những biến chứng nguy hiểm, và tử vong, tuy nhiên, số ca do virus này gây ra không nhiều.
Bệnh tay chân miệng có nghiêm trọng không?
• Đa số các trường hợp bị tay chân miệng phục hồi hoàn toàn, không biến chứng trong 7-10 ngày.
• Mất nước là biến chứng phổ biến nhất của tay chân miệng do Coxsackievirus, do trẻ bị đau miệng và không chịu ăn uống gì.
• Trong một số ít trường hợp, đặc biệt các ca do Enterovirus 71, bệnh có thể có biến chứng viêm màng não, viêm não, và có thể trở nên nghiêm trọng.
Diễn tiến bệnh, dấu hiệu và triệu chứng:
• Bệnh tay chân miệng rất dễ lây, vì bệnh lây từ người này sang người khác qua tiếp xúc trực tiếp với dịch mũi, miệng, nước miếng, dịch từ các bong nước, và phân của người bệnh. Người bị bệnh thường dễ lây cho người khác nhất trong tuần đầu tiên của bệnh. Bệnh tay chân miệng không truyền qua người từ nguồn súc vật hoặc thú nuôi trong nhà.
• Bệnh tay chân miệng đa số xảy ra ở trẻ dưới 10 tuổi, phổ biến nhất ở trẻ dưới 5 tuổi. Trẻ càng nhỏ càng dễ có triệu chứng nặng hơn. Đa số người lớn đã có miễn dịch đầy đủ nên ít bị bệnh hơn, nhưng cũng có những ca tay chân miệng được báo cáo ở trẻ vị thành niên và người trưởng thành.
• Thông thường, thời gian ủ bệnh là 3-7 ngày.
• Khi phát bệnh, sốt là triệu chứng thường gặp đầu tiên, và trẻ thường chỉ sốt trong 1-2 ngày đầu. Khi đó, trẻ cũng có những dấu hiệu rất chung chung, không đặc hiệu, như kém ăn, mệt mỏi, và thường than đau họng (nhưng chưa có loét).
• 1-2 ngày sau khi bắt đầu sốt, trẻ bắt đầu có những vết chấm đỏ trong miệng, dần phát triển thành bong nước và vỡ ra thành vết loét. Những vết loét này thường xuất hiện ở lưỡi, lợi, và vòm hầu, họng, mặt trong má.
• Sẩn da cũng xuất hiện trong thời gian này, với những chấm đỏ, phẳng hoặc gồ lên, và nhiều khi phát triển thành bóng nước, thường phân bố ở lòng bàn tay, lòng bàn chân, mông, vùng khủy tay và đầu gối.
• Một số ít trường hợp, khi trẻ bị biến chứng nặng, sẽ có những dấu hiệu thần kinh và hệ thống. Đây là những trẻ cần được theo dõi sát và được quyết định điều trị chuyên biệt kịp thời.
Những dấu hiệu được xem là quan trọng mà ba mẹ cần nhận biết để cho trẻ đến tái khám ngay, bao gồm:
• Sốt từ 39 độ C trở lên, hoặc trên 2 ngày.
• Ói nhiều
• Đừ nhiều
• Thở nhanh / thở khó
• Quấy khóc, bứt rứt
• Giật mình hốt hoảng nhiều lần
• Run giật cơ
• Yếu chi
• Mất thăng bằng khi đi đứng
• Da nổi bông
• Nếu ba mẹ có bất kỳ điều gì lo lắng
Điều trị bệnh tay chân miệng như thế nào?
Như đã nói ở trên, đây là một bệnh do virus, và thường tự hết, nên đa số các trẻ chỉ cần điều trị hỗ trợ trong thời gian bệnh để chờ tự hết. Trẻ bị viêm loét miệng lưỡi rất đau, vì vậy trẻ rất quấy, than khóc, và không chịu ăn uống gì, do đó dễ bị mất nước, hạ đường huyết. Những trẻ này cần được cho giảm đau, và khuyến khích ăn uống chậm, ít lại, nhiều lần hơn, với những thức ăn lỏng, mềm, dễ nuốt, và cho uống nhiều nước. Nhiều trẻ sẽ chịu đồ lạnh hơn, vì có thể làm giảm đau ở vết loét cho trẻ. Không cần tránh các thức ăn, thức uống lạnh, như nước đá, kem, yaourt…, mà ngược lại, có thể thử cho trẻ những thức này, để xem trẻ có dễ chịu hơn phần nào hay không.
Đối với những trường hợp nghi ngờ bị biến chứng thần kinh, hoặc có những dấu hiệu, tiêu chuẩn nghi ngờ khả năng/nguy cơ bị biến chứng thần kinh cao, các bác sĩ sẽ quyết định cho trẻ nhập viện để bắt đầu điều trị hỗ trợ chuyên biệt, hoặc để có thể theo dõi sát các dấu hiệu nặng nhằm can thiệp kịp thời. Vì khi trẻ bị biến chứng thần kinh, bệnh có thể diễn tiến rất nhanh và rất trầm trọng, mà nếu phát hiện trễ, qua “thời điểm vàng”, các can thiệp chuyên sâu sẽ không được hữu hiệu bằng, và vì vậy, hệ quả bệnh sẽ không được tối ưu.
Khi bị bệnh rồi, có bị bệnh lại nữa được không?
Khi một người bị bệnh tay chân miệng, sau đợt bệnh này, chỉ phát triển miễn dịch chống lại Virus gây đợt bệnh này mà thôi. Trong khi đó, nhóm enterovirus bao gồm rất nhiều loại virus khác nhau, vì vậy, người đó vẫn có thể bị lại bệnh tay chân miệng, nhưng gây ra bởi loại virus khác so với virus ban đầu.
Có thể phòng ngừa bệnh tay chân miệng không?
HIện nay không có thuốc giết virus đặc hiệu, cũng như không có vaccine nào để phòng ngừa bệnh. Tuy nhiên, nguy cơ bị nhiễm bệnh có thể được giảm đi nếu chúng ta thực hiện những phương pháp vệ sinh tốt, như:
• Thường xuyên rửa tay bằng xà phòng, đặc biệt là sau khi chạm vào những vết loét, bóng nước của người bị bệnh, trước khi sửa soạn thức ăn, trước khi ăn, trước khi cho trẻ ăn, và sau khi sử dụng toilet và sau khi thay tả cho trẻ.
• Lau sạch những bề mặt và những đồ chơi có thể “bị nhiễm”, bằng xà phòng và nước trước, sau đó tiệt trùng bằng nước tẩy rửa chứa chlor (chlorine) pha loãng.
• Tránh tiếp xúc gần, như ôm hôn, dùng chung muỗng nĩa, chén, với người bệnh.
• Không cho trẻ đi học, hoặc đến các nơi vui chơi, tập trung của các trẻ nhỏ (công viên vui chơi, nhà banh, hồ bơi…) cho đến khi trẻ hết bệnh hoàn toàn (thường sau 7-10 ngày sau khi khởi bệnh).
• Dạy trẻ che miệng, mũi khi ho hoặc hắt xì
• Bỏ các tả dơ, giấy chùi, khăn ướt khi chăm sóc trẻ bệnh vào bịch rác và đậy lại kỹ càng.
• Giữ sạch nhà cửa, trường học, hoặc trường mẫu giáo.
Những thông tin cần ghi nhớ:
• Bệnh tay chân miệng thường xảy ra ở trẻ em, đặc biệt là trẻ nhỏ. Trẻ càng nhỏ càng dễ bị triệu chứng nặng hơn.
• Đa số các trường hợp tự hết trong khoảng 7 ngày, và chỉ cần điều trị hỗ trợ. Chú ý khuyến khích cho trẻ ăn uống để tránh mất nước.
• Một số ít trường hợp có nguy cơ biến chứng thần kinh sẽ được tư vấn nhập viên để theo dõi và can thiệp điều trị kịp thời.
• Trẻ bệnh dễ lây bệnh cho trẻ khác, nhất là trong 7 ngày từ khi phát bệnh, vì vậy nên cách ly trẻ khỏi trường và khu vui chơi.
• Nên theo dõi sát trẻ khi chăm sóc tại nhà, để có thể nhận biết các dấu hiệu nguy hiểm và cho trẻ tái khám đúng lúc.
• Rửa tay và giữ vệ sinh tốt, hạn chế tiếp xúc với dịch cơ thể của người bệnh, là biện pháp phòng ngừa hữu hiệu nhất.
Bs. Huyên Thảo.
Nguồn tham khảo:
• World Health Organization: Hand, Foot and Mouth Disease Information Sheet
• World Health Organization: A guide to clinical management and public health response for Hand, Foot and Mouth disease.
NewVnNews
NewVnNews - Tiêu chảy (tên y khoa là gastroenteritis – viêm dạ dày ruột) là một nhiễm trùng đường ruột, đa số là do virus, một số trường hợp do vi khuẩn gây ra. Đây là một tình trạng khá phổ biến ở trẻ em, gây nhiều lo lắng, và chiếm phần lớn những đợt thăm khám, và nhập viện. Những thực hành của gia đình trong chăm sóc trẻ bệnh hiện vẫn còn nhiều hiểu lầm, hoặc theo kiểu dân gian nên không khoa học, và nên được thay đổi và điều chỉnh.
Trở lại với bệnh tiêu chảy, vì đường tiêu hóa bị bệnh nên ở phần dưới sẽ biểu hiện tiêu lỏng nước nhiều lần, và ở phần trên sẽ biểu hiện bằng ói ọc. Ở hầu hết các trường hợp, triệu chứng ói ọc xảy ra ở hai ngày đầu của bệnh, và đến ngày thứ 3 thì tự hồi phục và hết hẳn. Triệu chứng tiêu chảy thường nặng nhất ở những ngày đầu của bệnh, dây dưa khoảng 5-7 ngày, và đa số ngưng hẳn trong hai tuần. Sốt cũng là một triệu chứng phổ biến thường thấy, và đa phần không kéo dài quá 48 giờ. Một điều cần lưu ý, là đa số các trường hợp này đều không cần dùng thuốc, và bệnh tự phục hồi. Nhiệm vụ của người chăm sóc trẻ là hỗ trợ chăm sóc trẻ đúng cách, để tránh mất nước. Nhiệm vụ của bác sĩ, là thăm khám để loại trừ những bệnh nguy hiểm gây triệu chứng tương tự, và để tư vấn hỗ trợ trẻ và gia đình, theo dõi để có thể phát hiện các dấu hiệu mất nước nặng, nhiễm trùng nặng…đúng lúc để can thiệp hỗ trợ, đặc biệt trong 48 giờ đầu của bệnh.
Vấn đề hỗ trợ bù nước và dinh dưỡng cho trẻ bệnh tiêu chảy là vấn đề tối ưu trong chăm sóc trẻ. Trẻ nhỏ dưới 1 tuổi, đặc biệt dưới 6 tháng, rất dễ bị mất nước, và vì vậy cần phải được đánh giá theo dõi thường xuyên hơn, có khi mỗi 6-12 giờ. Những trẻ bị suy dinh dưỡng, hoặc có những bệnh mãn tính như bệnh thận, tim mạch, cũng cần được đánh giá cẩn thận hơn. Những dấu hiệu bé có thể bị mất nước bao gồm: lừ đừ (rất buồn ngủ và khó đánh thức ở những cữ ăn/bú sữa bình thường), khô môi miệng, không đi tiểu, tay chân lạnh. Nếu trẻ có một trong những dấu hiệu này, trẻ cần được khám bác sĩ ngay lập tức.
Đa số các trẻ tiêu chảy đều có thể được chăm sóc tại nhà. Điều trị chính là cho trẻ uống nước thường xuyên, để bù lại dịch mất đi từ ói và tiêu chảy. Vì đường ruột bị bệnh, chúng ta không thể cho trẻ uống quá nhanh và quá nhiều như bình thường, vì như thế trẻ sẽ ói lại ngay. Khuyến cáo thường dùng là bù dịch chậm, mỗi 15 phúc một lần, bằng cách uống từ từ, đút muỗng, hoặc bơm chậm qua bơm tiêm đường miệng, với mục tiêu cung cấp cho trẻ khoảng 10-20ml/kg/giờ khi trẻ ói nhiều. Dịch bù tốt nhất là Oresol hoặc Hydrolite. Dùng nước trái cây hoặc nước soda là lựa chọn sai, nên tránh, vì có thể tăng nguy cơ mất nước ở trẻ.
Nếu trẻ không đáp ứng, và vẫn ói nhiều, không dung nạp được dịch bù, nên cho trẻ đi khám. Các bác sĩ có thể đánh giá lại cách bù dịch, hướng dẫn làm đúng cách, hoặc nếu trẻ vẫn ói nhiều mặc dù đã làm đúng cách, các bác sĩ có thể quyết định hỗ trợ trẻ bằng thuốc chống ói và đặt sonde dạ dày để bù dịch qua sonde dạ dày cho trẻ. Rất nhiều ba mẹ nôn nóng khi con ói ọc, và đòi hỏi chích vein truyền dịch liền. Thật sự, bằng chứng nghiên cứu cho thấy, việc bù dịch qua sonde dạ dày cho trẻ là an toàn hơn, và hiệu quả hơn, so với bù dịch qua đường truyền tĩnh mạch. Việc chích vein truyền dịch hiện nay là lựa chọn cuối cùng, khi trẻ vẫn không dung nạp đường dịch bù qua sonde dạ dày, hoặc trẻ mất nước quá nặng, không thể đợi để bù qua sonde dạ dày được.
Không ít gia đình ngưng sữa, hoặc các sản phẩm của sữa khi trẻ bị tiêu chảy. Một số gia đình còn ngưng luôn thức ăn thường ngày của trẻ. Thực hành này hoàn toàn sai. Nên nhớ, ruột bệnh của trẻ vẫn cần dinh dưỡng, và trong những trường hợp tiêu chảy cấp dưới 2 tuần, sẽ không có tình trạng không dung nạp sữa. Vì vậy, thực hành này là nguy hiểm, vì có thể gây cho trẻ thiếu dinh dưỡng trong thời kỳ bệnh, nguy cơ hạ đường huyết vì không có năng lượng cung cấp, và làm tình trạng bệnh nặng hơn hoặc dây dưa hơn.
Khuyến cáo hiện nay là nên tiếp tục thức ăn hoặc sữa như bình thường cho trẻ trong thời gian bệnh. Đặc biệt, khi trẻ cần bù dịch, thì khi bù dịch xong, nên sử dụng lại sữa bình thường càng sớm càng tốt. Trẻ nhỏ thường sẽ có nhu cầu uống sau mỗi lần ói, vì vậy nên tiếp tục cho trẻ bú mẹ, hoặc bú bình. Tiếp tục cho trẻ ăn thức ăn dặm bình thường trong thời gian bệnh, và nên cho trẻ ăn bất kỳ thứ gì trẻ thích (ngoại trừ những thức ăn sống, không được nấu chín). Không nên ngưng sữa mẹ/sữa bình/ thức ăn quá 24 giờ. Chỉ cho trẻ uống nước trái cây và các loại nước soda khi tiêu chảy đã hoàn toàn ngưng hẳn.
Một điều cần lưu ý nữa, là bệnh này rất dễ lây, vì vậy người chăm sóc trẻ nên rửa tay bằng xà phòng thường xuyên, và lau tay khô sau rửa, để hạn chế nguy cơ lây lan của bệnh. Nên rửa tay sau mỗi lần thay tã hoặc chăm trẻ đi toilet, và trước khi chuẩn bị thức ăn, hoặc trước khi ăn. Những khăn tắm, lau cho trẻ bệnh nên chỉ được sử dụng cho trẻ. Trẻ khi bị bệnh nên được ở nhà, và không cho đi học hoặc đi mẫu giáo. Chỉ cho trẻ đi học lại sau 48 giờ từ lần tiêu chảy/ói ọc cuối cùng (2 ngày sau khi hết triệu chứng). Không nên cho trẻ đi bơi cho đến 2 tuần sau lần tiêu chảy cuối cùng.
Thông tin cần ghi nhớ:
1. Trẻ nhỏ rất dễ bị mất nước – vì vậy nên cho uống nước bù thường xuyên
2. Trẻ dưới 6 tháng nên được khám bác sĩ ngay khi bệnh, và có thể cần đánh giá thường xuyên mỗi 6-12 giời
3. Trẻ nhỏ thường uống sau mỗi lần trẻ ói. Tiếp tục cho trẻ bú sữa. Không nên ngưng sữa quá 12-24 giờ.
4. Tiếp tục cho trẻ ăn nếu trẻ muốn, không ngưng cho ăn quá 24 giờ
5. Trẻ nhỏ rất dễ lây bệnh, vì vậy, nên rửa tay thường xuyên khi chăm sóc trẻ.
6. Nên cho trẻ tránh các trẻ khác, vì dễ lây bệnh cho các bạn, cho đến khi bệnh ngưng hẳn.
Khi nào bạn nên cho bé đi khám bác sĩ khi bé bị tiêu chảy?
• Nếu bé không uống được, mà vẫn còn ói và tiêu chảy
• Nếu bé bị tiêu chảy nhiều (8 tới 10 lần đi phân lỏng một ngày, hoặc 2-3 lần đi phân nước rất nhiều mỗi ngày), hoặc nếu bé vẫn còn bị tiêu chảy sau 10 ngày
• Nếu bé ói thường xuyên và không thể dung nạp được bất kỳ chất lỏng nào.
• Nếu bạn nghĩ bé bị mất nước: vd: không đi tè, nhợt nhạt, sụt cân nhiều, mắt trũng, tay chân lạnh, hoặc ngủ li bì khó đánh thức
• Nếu bé bị đau bụng nhiều
• Nếu bạn thấy trong phân có máu
• Nếu bé ói ra dịch xanh lá cây
• Hoặc nếu bạn có BẤT KỲ lo lắng nào
Nguồn: Bs. Huyên Thảo.
Gastroenteritis – Kids Health Info and Clinical Practice Guidelines – The Royal Children’s Hospital – Melbourne, Australia.
Trở lại với bệnh tiêu chảy, vì đường tiêu hóa bị bệnh nên ở phần dưới sẽ biểu hiện tiêu lỏng nước nhiều lần, và ở phần trên sẽ biểu hiện bằng ói ọc. Ở hầu hết các trường hợp, triệu chứng ói ọc xảy ra ở hai ngày đầu của bệnh, và đến ngày thứ 3 thì tự hồi phục và hết hẳn. Triệu chứng tiêu chảy thường nặng nhất ở những ngày đầu của bệnh, dây dưa khoảng 5-7 ngày, và đa số ngưng hẳn trong hai tuần. Sốt cũng là một triệu chứng phổ biến thường thấy, và đa phần không kéo dài quá 48 giờ. Một điều cần lưu ý, là đa số các trường hợp này đều không cần dùng thuốc, và bệnh tự phục hồi. Nhiệm vụ của người chăm sóc trẻ là hỗ trợ chăm sóc trẻ đúng cách, để tránh mất nước. Nhiệm vụ của bác sĩ, là thăm khám để loại trừ những bệnh nguy hiểm gây triệu chứng tương tự, và để tư vấn hỗ trợ trẻ và gia đình, theo dõi để có thể phát hiện các dấu hiệu mất nước nặng, nhiễm trùng nặng…đúng lúc để can thiệp hỗ trợ, đặc biệt trong 48 giờ đầu của bệnh.
Vấn đề hỗ trợ bù nước và dinh dưỡng cho trẻ bệnh tiêu chảy là vấn đề tối ưu trong chăm sóc trẻ. Trẻ nhỏ dưới 1 tuổi, đặc biệt dưới 6 tháng, rất dễ bị mất nước, và vì vậy cần phải được đánh giá theo dõi thường xuyên hơn, có khi mỗi 6-12 giờ. Những trẻ bị suy dinh dưỡng, hoặc có những bệnh mãn tính như bệnh thận, tim mạch, cũng cần được đánh giá cẩn thận hơn. Những dấu hiệu bé có thể bị mất nước bao gồm: lừ đừ (rất buồn ngủ và khó đánh thức ở những cữ ăn/bú sữa bình thường), khô môi miệng, không đi tiểu, tay chân lạnh. Nếu trẻ có một trong những dấu hiệu này, trẻ cần được khám bác sĩ ngay lập tức.
Đa số các trẻ tiêu chảy đều có thể được chăm sóc tại nhà. Điều trị chính là cho trẻ uống nước thường xuyên, để bù lại dịch mất đi từ ói và tiêu chảy. Vì đường ruột bị bệnh, chúng ta không thể cho trẻ uống quá nhanh và quá nhiều như bình thường, vì như thế trẻ sẽ ói lại ngay. Khuyến cáo thường dùng là bù dịch chậm, mỗi 15 phúc một lần, bằng cách uống từ từ, đút muỗng, hoặc bơm chậm qua bơm tiêm đường miệng, với mục tiêu cung cấp cho trẻ khoảng 10-20ml/kg/giờ khi trẻ ói nhiều. Dịch bù tốt nhất là Oresol hoặc Hydrolite. Dùng nước trái cây hoặc nước soda là lựa chọn sai, nên tránh, vì có thể tăng nguy cơ mất nước ở trẻ.
Nếu trẻ không đáp ứng, và vẫn ói nhiều, không dung nạp được dịch bù, nên cho trẻ đi khám. Các bác sĩ có thể đánh giá lại cách bù dịch, hướng dẫn làm đúng cách, hoặc nếu trẻ vẫn ói nhiều mặc dù đã làm đúng cách, các bác sĩ có thể quyết định hỗ trợ trẻ bằng thuốc chống ói và đặt sonde dạ dày để bù dịch qua sonde dạ dày cho trẻ. Rất nhiều ba mẹ nôn nóng khi con ói ọc, và đòi hỏi chích vein truyền dịch liền. Thật sự, bằng chứng nghiên cứu cho thấy, việc bù dịch qua sonde dạ dày cho trẻ là an toàn hơn, và hiệu quả hơn, so với bù dịch qua đường truyền tĩnh mạch. Việc chích vein truyền dịch hiện nay là lựa chọn cuối cùng, khi trẻ vẫn không dung nạp đường dịch bù qua sonde dạ dày, hoặc trẻ mất nước quá nặng, không thể đợi để bù qua sonde dạ dày được.
Không ít gia đình ngưng sữa, hoặc các sản phẩm của sữa khi trẻ bị tiêu chảy. Một số gia đình còn ngưng luôn thức ăn thường ngày của trẻ. Thực hành này hoàn toàn sai. Nên nhớ, ruột bệnh của trẻ vẫn cần dinh dưỡng, và trong những trường hợp tiêu chảy cấp dưới 2 tuần, sẽ không có tình trạng không dung nạp sữa. Vì vậy, thực hành này là nguy hiểm, vì có thể gây cho trẻ thiếu dinh dưỡng trong thời kỳ bệnh, nguy cơ hạ đường huyết vì không có năng lượng cung cấp, và làm tình trạng bệnh nặng hơn hoặc dây dưa hơn.
Khuyến cáo hiện nay là nên tiếp tục thức ăn hoặc sữa như bình thường cho trẻ trong thời gian bệnh. Đặc biệt, khi trẻ cần bù dịch, thì khi bù dịch xong, nên sử dụng lại sữa bình thường càng sớm càng tốt. Trẻ nhỏ thường sẽ có nhu cầu uống sau mỗi lần ói, vì vậy nên tiếp tục cho trẻ bú mẹ, hoặc bú bình. Tiếp tục cho trẻ ăn thức ăn dặm bình thường trong thời gian bệnh, và nên cho trẻ ăn bất kỳ thứ gì trẻ thích (ngoại trừ những thức ăn sống, không được nấu chín). Không nên ngưng sữa mẹ/sữa bình/ thức ăn quá 24 giờ. Chỉ cho trẻ uống nước trái cây và các loại nước soda khi tiêu chảy đã hoàn toàn ngưng hẳn.
Một điều cần lưu ý nữa, là bệnh này rất dễ lây, vì vậy người chăm sóc trẻ nên rửa tay bằng xà phòng thường xuyên, và lau tay khô sau rửa, để hạn chế nguy cơ lây lan của bệnh. Nên rửa tay sau mỗi lần thay tã hoặc chăm trẻ đi toilet, và trước khi chuẩn bị thức ăn, hoặc trước khi ăn. Những khăn tắm, lau cho trẻ bệnh nên chỉ được sử dụng cho trẻ. Trẻ khi bị bệnh nên được ở nhà, và không cho đi học hoặc đi mẫu giáo. Chỉ cho trẻ đi học lại sau 48 giờ từ lần tiêu chảy/ói ọc cuối cùng (2 ngày sau khi hết triệu chứng). Không nên cho trẻ đi bơi cho đến 2 tuần sau lần tiêu chảy cuối cùng.
Thông tin cần ghi nhớ:
1. Trẻ nhỏ rất dễ bị mất nước – vì vậy nên cho uống nước bù thường xuyên
2. Trẻ dưới 6 tháng nên được khám bác sĩ ngay khi bệnh, và có thể cần đánh giá thường xuyên mỗi 6-12 giời
3. Trẻ nhỏ thường uống sau mỗi lần trẻ ói. Tiếp tục cho trẻ bú sữa. Không nên ngưng sữa quá 12-24 giờ.
4. Tiếp tục cho trẻ ăn nếu trẻ muốn, không ngưng cho ăn quá 24 giờ
5. Trẻ nhỏ rất dễ lây bệnh, vì vậy, nên rửa tay thường xuyên khi chăm sóc trẻ.
6. Nên cho trẻ tránh các trẻ khác, vì dễ lây bệnh cho các bạn, cho đến khi bệnh ngưng hẳn.
Khi nào bạn nên cho bé đi khám bác sĩ khi bé bị tiêu chảy?
• Nếu bé không uống được, mà vẫn còn ói và tiêu chảy
• Nếu bé bị tiêu chảy nhiều (8 tới 10 lần đi phân lỏng một ngày, hoặc 2-3 lần đi phân nước rất nhiều mỗi ngày), hoặc nếu bé vẫn còn bị tiêu chảy sau 10 ngày
• Nếu bé ói thường xuyên và không thể dung nạp được bất kỳ chất lỏng nào.
• Nếu bạn nghĩ bé bị mất nước: vd: không đi tè, nhợt nhạt, sụt cân nhiều, mắt trũng, tay chân lạnh, hoặc ngủ li bì khó đánh thức
• Nếu bé bị đau bụng nhiều
• Nếu bạn thấy trong phân có máu
• Nếu bé ói ra dịch xanh lá cây
• Hoặc nếu bạn có BẤT KỲ lo lắng nào
Nguồn: Bs. Huyên Thảo.
Gastroenteritis – Kids Health Info and Clinical Practice Guidelines – The Royal Children’s Hospital – Melbourne, Australia.
NewVnNews
NewVnNews - Viêm tiểu phế quản là một nhiễm virus đường hô hấp, thường xảy ra ở trẻ dưới 6 tháng tuổi, tuy nhiên đôi khi cũng xảy ra ở trẻ nhỏ đến 1 tuổi. Như tên gọi, bệnh này gây viêm nhiễm, tắc nghẽn đường khí nhỏ dẫn vào phổi của bé (tiểu phế quản), và gây ra những triệu chứng về hô hấp và toàn thân cho trẻ.
Những dấu hiệu và triệu chứng của bệnh:
• Bệnh thường bắt đầu như một cơn cảm trong 1-2 ngày đầu, và trẻ sẽ có các triệu chứng như sổ mũi, ho nhẹ, nghẹt mũi.
• Sau đó, trẻ bắt đầu ho nhiều hơn, thở nhanh hơn và nghe khò khè. Vì vậy, trẻ sẽ khó ăn uống hơn. Những triệu chứng thường gặp lúc này là: thở nhanh, bú/ăn kém, thở khò khè, co lõm ngực/bụng khi thở, sốt.
• Trẻ bị viêm tiểu phế quản thường tệ nhất trong ngày thứ 2 và thứ 3, và sau đó cải thiện dần dần, nhưng đợt bệnh có thể kéo dài 7 đến 10 ngày. Sau khi hết đợt bệnh, trẻ có thể ho dai dẳng 2-4 tuần mới dứt hẳn.
Điều trị:
• KHÔNG HÚT THUỐC TRONG NHÀ HOẶC XUNG QUANH TRẺ. Điều này đặc biệt quan trọng với trẻ bị bệnh đường hô hấp. Hút thuốc trong nhà làm tăng nguy cơ trẻ bị viêm tiểu phế quản và làm bệnh trẻ nặng hơn.
• Các loại thuốc thường không giúp được cho trẻ bị viêm tiểu phế quản. Vì đây là một nhiễm virus nên trẻ không cần sử dụng kháng sinh.
• Trẻ cần nghỉ ngơi, và cho ăn uống lượng nhỏ hơn, thường xuyên hơn. Thực hành này sẽ giúp trẻ không bị đuối sức khi ăn, đồng thời tránh làm trẻ bị mất nước và trở nặng do mất nước trong đợt bệnh này.
Nên cho trẻ đi khám bác sị khi:
• Trẻ bị ho nhiều hơn
• Trẻ ăn uống được chỉ khoảng ½ so với bình thường, hoặc trẻ không chịu ăn uống
• Trẻ có vẻ mệt mỏi, đừ hoặc buồn ngủ hơn mọi khi
• Nếu bạn có bất kỳ lo lắng gì
Nên cho trẻ đến phòng CẤP CỨU của bệnh viện gần nhất nếu:
• Trẻ khó thở (thở rất nhanh hoặc thở không đều)
• Không thể ăn uống bình thường do ho hoặc khò khè
• Nếu trẻ bị thay đổi màu da mặt khi trẻ ho
• Trẻ bị tím, hoặc da nhợt nhạt, vã mồ hôi
Những điểm cần lưu ý:
• Trẻ cần nghỉ ngơi, uống lượng nhỏ thường xuyên hơn
• Bệnh viêm tiểu phế quản dễ lây trong vài ngày đầu của bệnh.
• Bệnh phổ biến ở trẻ dưới 1 tuổi.
• Trẻ thường bệnh 3-5 ngày, sau đó phục hồi trong 7-10 ngày sau. Ho có thể kéo dài 2-4 tuần.
• HÚT THUỐC LÁ làm tăng nguy cơ trẻ nhỏ bị viêm tiểu phế quản, và làm cho bệnh của trẻ nặng hơn.
Nguồn: Bs. Huyên Thảo.
Bronchiolitis – Kids Health Info – Royal Children’s Hospital, Melbourne, Australia
Những dấu hiệu và triệu chứng của bệnh:
• Bệnh thường bắt đầu như một cơn cảm trong 1-2 ngày đầu, và trẻ sẽ có các triệu chứng như sổ mũi, ho nhẹ, nghẹt mũi.
• Sau đó, trẻ bắt đầu ho nhiều hơn, thở nhanh hơn và nghe khò khè. Vì vậy, trẻ sẽ khó ăn uống hơn. Những triệu chứng thường gặp lúc này là: thở nhanh, bú/ăn kém, thở khò khè, co lõm ngực/bụng khi thở, sốt.
• Trẻ bị viêm tiểu phế quản thường tệ nhất trong ngày thứ 2 và thứ 3, và sau đó cải thiện dần dần, nhưng đợt bệnh có thể kéo dài 7 đến 10 ngày. Sau khi hết đợt bệnh, trẻ có thể ho dai dẳng 2-4 tuần mới dứt hẳn.
Điều trị:
• KHÔNG HÚT THUỐC TRONG NHÀ HOẶC XUNG QUANH TRẺ. Điều này đặc biệt quan trọng với trẻ bị bệnh đường hô hấp. Hút thuốc trong nhà làm tăng nguy cơ trẻ bị viêm tiểu phế quản và làm bệnh trẻ nặng hơn.
• Các loại thuốc thường không giúp được cho trẻ bị viêm tiểu phế quản. Vì đây là một nhiễm virus nên trẻ không cần sử dụng kháng sinh.
• Trẻ cần nghỉ ngơi, và cho ăn uống lượng nhỏ hơn, thường xuyên hơn. Thực hành này sẽ giúp trẻ không bị đuối sức khi ăn, đồng thời tránh làm trẻ bị mất nước và trở nặng do mất nước trong đợt bệnh này.
Nên cho trẻ đi khám bác sị khi:
• Trẻ bị ho nhiều hơn
• Trẻ ăn uống được chỉ khoảng ½ so với bình thường, hoặc trẻ không chịu ăn uống
• Trẻ có vẻ mệt mỏi, đừ hoặc buồn ngủ hơn mọi khi
• Nếu bạn có bất kỳ lo lắng gì
Nên cho trẻ đến phòng CẤP CỨU của bệnh viện gần nhất nếu:
• Trẻ khó thở (thở rất nhanh hoặc thở không đều)
• Không thể ăn uống bình thường do ho hoặc khò khè
• Nếu trẻ bị thay đổi màu da mặt khi trẻ ho
• Trẻ bị tím, hoặc da nhợt nhạt, vã mồ hôi
Những điểm cần lưu ý:
• Trẻ cần nghỉ ngơi, uống lượng nhỏ thường xuyên hơn
• Bệnh viêm tiểu phế quản dễ lây trong vài ngày đầu của bệnh.
• Bệnh phổ biến ở trẻ dưới 1 tuổi.
• Trẻ thường bệnh 3-5 ngày, sau đó phục hồi trong 7-10 ngày sau. Ho có thể kéo dài 2-4 tuần.
• HÚT THUỐC LÁ làm tăng nguy cơ trẻ nhỏ bị viêm tiểu phế quản, và làm cho bệnh của trẻ nặng hơn.
Nguồn: Bs. Huyên Thảo.
Bronchiolitis – Kids Health Info – Royal Children’s Hospital, Melbourne, Australia
NewVnNews
Subscribe to:
Posts (Atom)
Mới Nhất
Đọc Nhiều
-
Trịnh Công Sơn cùng với tiếng hát Khánh Ly đã gắn liền với tôi từ còn nhỏ xíu, cái thời còn thịnh hành băng cassette. Tôi "bị buột...
-
Chủ nghĩa tư bản sẽ còn phát triển hơn nữa, sẽ rất lâu nữa mới đến thời kỳ tột đỉnh của nó, và còn có nhiều sự điều chỉnh, thích nghi mỗ...
-
NewVnNews - Xin trân trọng giới thiệu đến bà con xứ Nghệ 500 trăm câu thành ngữ, tục ngữ và ca dao chọn lọc của xứ Nghệ Ti...
-
NewVnNews - Bài viết công phu của nhà báo Paul Mason đăng trên tờ The Guardian đặt ra một vấn đề tạo ra rất nhiều tranh cãi, nhưng đáng...
-
NewVnNews - Cách đây 67 năm, vào ngày 10 tháng 12 năm 1948, tai Paris – Thủ đô nước Pháp – Bản Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền đã ra đời...
-
GIẤC MƠ VIỆT NAM ! [Đang biên tập] "Hỡi đồng bào cả nước, Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quy...
-
BI KỊCH TRỊNH CÔNG SƠN. [Đang biên tập] Tôi gặp Trịnh Công Sơn vào năm 1958 tại Huế; lúc đó Sơn khoảng 17 tuổi và tôi 18 tuổi. Chúng tôi c...
-
(NewVnNew) Từ tháng 10 năm nay Nhật Bản sẽ bắt đầu triển khai chế độ quản lí công dân bằng 1 mã số duy nhất cho từng người dân, dùng c...
-
NGUYÊN TẮC VÀNG NUÔI CON KHỎE 1 Tắm cho bé: dưới 3 tháng tắm trước 10h - dưới 6 tháng tắm trước 12h - dưới 1 tuổi tắm trước 15h. dưới 3 tuổi...
-
NewVnNews - Từ “biệt phủ” mới xuất hiện gần đây trong tiếng Việt (có nhẽ là từ ngày có cái Việt phủ Thành Chương cũng nên?). Biệt phủ 20...





















