Chuyên Mục "Sách Hay"
Showing posts with label Sách Hay. Show all posts
NewVnNews - Cuốn "Tại sao các Quốc gia thất bại" - nguồn gốc của quyền lực, thịnh vượng và nghèo đói, có khoảng hơn 500 trang thôi, rất thú vị và thông não tốt! Đọc không khó, khó là hiểu thế nào. Hiểu thế nào không quan trọng, hiểu xong thì làm gì.


Có 196 quốc gia trên thế giới. 25 trong số đó rất giàu có được định nghĩa là có thu nhập bình quân đầu người trên 100.000 $ một năm. Nhưng có những nước còn nghèo và một số thì rất, rất nghèo. Đây là 20 quốc gia nghèo nhất thế giới. Thu nhập bình quân đầu người của họ dưới 1000$ /, tức là chỉ dưới 3$ 1 người 1 ngày.

Tất cả các quốc gia, dù nhiều hay it đều đang trên con đường phát triển. Nhưng tại các quốc gia nghèo thì việc này diễn ra vô cùng chậm chạp. Nếu Zimbabwe tiếp tục duy tri tỷ lệ tăng trưởng như hiện nay, nó sẽ đủ tiêu chuẩn là một nước giàu trong 2.722 năm nữa.

Điều chúng ta muốn tìm hiểu là tại sao một số quốc gia thì thịnh vượng trong khi các quốc gia khác lại lạc hậu để từ đó hiểu được những điều đúng đắn mà các nước giàu đang làm và có cái nhìn toàn diện hơn về những thác thức và rào cản mà các nước nghèo đang phải đối mặt.



Acemoglu và Robinson đưa ra giả thuyết về các thể chế chính trị là cái quyết định chứ không phải địa lý, văn hóa, hay sự thiếu hiểu biết.

Lập luận đại thể như sau: một quốc gia giàu nếu phần lớn công dân của nó tham gia vào các hoạt động kinh tế, tạo ra nhiều của cải một cách hiệu quả, luôn tìm cách mới để thực hiện các nhiệm vụ (cũ và mới) sao cho hiệu quả hơn.

Nhưng cái gì khiến các tác nhân kinh tế (cá nhân, hộ gia đình, các công ty) làm như vậy? Đó là các khuyến khích (incentive). Không có các khuyến khích, không có động cơ người ta không tích cực làm việc; các phản khuyến khích thậm chí còn gây ra tác hại. Nghiên cứu các khuyến khích là một trong những nội dung chính của kinh tế học (và khoa học xã hội nói chung khi khuyến khích được hiểu theo nghĩa rộng không chỉ là khuyến khích kinh tế).

Song cái gì định hình các khuyến khích? Đó là các thể chế kinh tế. Các thể chế kinh tế là các quy tắc ảnh hưởng đến nền kinh tế hoạt động thế nào và đến các khuyến khích thúc đẩy người dân ra sao. Các tác giả phân ra hai loại thể chế kinh tế: thể chế kinh tế bao gồm (inclusive economic institution) và các thể chế kinh tế khai thác (extractive economic institution).

Các thể chế kinh tế bao gồm bảo đảm: các quyền tài sản an toàn; luật pháp và trật tự; các thị trường và sự ủng hộ của nhà nước đối với các thị trường (qua các dịch vụ công và các quy định); dễ tham gia hoạt động kinh tế; tôn trọng các hợp đồng; đa số nhân dân được tiếp cận đến giáo dục và đào tạo và các cơ hội.

Ngược lại thì các thể chế kinh tế là khai thác: thiếu luật pháp và trật tự; các quyền tài sản không an toàn; các rào cản tham gia và các quy chế cản trở hoạt động của các thị trường và tạo ra sân chơi không bằng phẳng.

Cuối cùng, các thể chế kinh tế hình thành trên cơ sở nào? Các thể chế chính trị định hình các thể chế kinh tế. Các tác giả phân biệt hai loại thể chế chính trị: bao gồm và khai thác.
Các thể chế chính trị bao gồm bảo đảm: điều kiện cho sự tham gia rộng rãi của các công dân – chủ nghĩa đa nguyên – đặt ra các ràng buộc và kiểm soát đối với các chính trị gia; nền pháp trị; nhà nước tập trung ở mức đủ để thực thi luật pháp và trật tự (nhưng không quá tập trung để biến thành chính thể chuyên chế).

Ngược lại, các thể chế chính trị mang tính khai thác: tập trung quyền lực chính trị vào tay một số ít người; không có các ràng buộc lên các chính trị gia hay kiểm soát và cân bằng hay thiếu nền pháp trị.

Các thể chế kinh tế bao gồm thúc đẩy tăng trưởng thông qua: khuyến khích đầu tư; tận dụng sức mạnh thị trường trong phân bổ nguồn lực, sự tham gia của các hãng hiệu quả hơn, có khả năng tài trợ vốn cho kinh doanh khởi nghiệp; tạo điều kiện cho sự tham gia rộng rãi thông qua tạo cơ hội bình đẳng, để các công dân có cơ hội giáo dục và đào tạo; và quan trọng nhất khuyến khích đầu tư vào công nghệ mới và chấp nhận sự phá hủy sáng tạo. Như thế, các thể chế bao gồm tạo ra các khuyến khích để các tác nhân kinh tế hoạt động hiệu quả và kết quả là tạo ra tăng trưởng bền vững, và như thế thường dẫn các quốc gia đến giàu có.



Tăng trưởng, tuy vậy luôn luôn kéo theo những kẻ thắng và những người thua. Những kẻ thắng thường ủng hộ, song những người thua thường chống đối. Những người thua về kinh tế và nhất là những người thua (hay có khả năng bị thua) về mặt chính trị thường ngăn cản quyết liệt. Và đấy chính là logic của các thể chế khai thác: những người có quyền thế sợ sự mất quyền lực, sợ sự phá hủy sáng tạo, sợ bị trở thành kẻ thua, nên tìm cách cản trợ thay đổi, cố duy trì các thể chế khai
thác, ưu tiên giữ ổn định chính trị, giữ hiện trạng có lợi cho họ.

Tuy vậy, dưới các thể chế khai thác cũng có thể có tăng trưởng. Đầu tiên, có tăng trưởng thì mới có của cải để khai thác. Tăng trưởng dưới các thể chế khai thác chủ yếu diễn ra theo hai kiểu: chuyển nguồn lực từ khu vực năng suất thấp (thí dụ nông nghiệp) sang khu vực có năng suất cao hơn (công nghiệp hay dịch vụ, chẳng hạn); giới chóp bu có thể tự tin để tạo ra các yếu tố bao gồm trong các thể chế kinh tế trong khi vẫn giữ các thể chế chính trị khai thác.

Các thể chế kinh tế khai thác có thể tạo ra tăng trưởng, nhưng không bền vững trong dài hạn và thường không tạo ra tăng trưởng và vì thế dẫn đến nghèo khó.

Có ái lực mạnh (hay sự đồng vận) giữa các thể chế chính trị bao gồm và các thể chế kinh tế bao gồm; cũng vậy đối với các thể chế khai thác; chúng tăng cường lẫn nhau và tạo ra trạng thái ổn định tương đối. Sự kết hợp của các thể chế chính trị khai thác với các thể chế kinh tế bao gồm có thể tạo ra tăng trưởng, nhưng cuối cùng sẽ quay về hai trạng thái ổn định hơn: hoặc các thể chế chính trị chuyển thành các thể chế bao gồm và quốc gia phát triển mạnh, hay các thể chế kinh tế bao gồm bị thay thế bằng các thể chế khai thác. Tương tự, trạng thái các thể chế chính trị bao gồm kết hợp với các thể chế kinh tế khai thác cũng là trạng thái bất ổn định: các lực lượng chính trị sẽ buộc các thể chế kinh tế trở nên bao gồm, hoặc bản thân các thể chế chính trị bị biến thành khai thác.”
Mai Phương Tú.
NewVnNews - Dù muốn dù không tất cả chúng ta, không kể nam nữ, giàu sang hay nghèo hèn rồi cuối cùng cũng chết. Vấn đề là chết như thế nào và cuộc sống đã có mang lại một ý nghĩa như thế nào cho chính bản thân và những người sống tiếp. Hầu hết chúng ta đều muốn mình có con, có cháu và mong chúng sống sung sướng, hạnh phúc. Vấn đề là chúng ta có thể làm gì để tạo ra điều đó?
Hãy đọc “Lời nguyện cầu từ Chernobyl” ( Tác giả: Svetlana Alexievich, người dịch: Nguyễn Bích Lan, NXB Phụ nữ, 2016) để suy ngẫm về những câu hỏi ấy.


Cuốn sách là tập hợp lời kể “độc thoại” của những chứng nhân-nạn nhân đã chứng kiến, đã trải nghiệm cuộc sống kinh hoàng khi xảy ra sự cố nhà máy điện hạt nhân Chernobyl năm 1986. Đấy là lời kể của những người phụ nữ mất chồng, những người lính mất đồng đội, những người thanh niên chết trong đau đớn hoặc phải sống tiếp cuộc đời bệnh tật.

Sự thật qua lời kể của nhân chứng quá tàn khốc. Tàn khốc đến độ, cho dù đã đọc không ít những cuốn sách viết về những nạn nhân bị bom nguyên tử ở Nhật Bản, tôi vẫn bàng hoàng, toàn thân lạnh cứng.
Xin trích vài đoạn:


“Hai ngày cuối cùng ở bệnh viện-tôi nhấc cánh tay anh lên thấy xương cốt của anh lủng lẳng hết. Những mảnh phổi, mảnh gan trôi ra miệng anh. Anh bị nghẹt thở vì nội tạng của chính mình” (tr.35).

“Chúng tôi cô đơn. Ở đây chúng tôi là những kẻ xa lạ. Họ thậm chí chôn những người đã từng ở Chernobyl trong một khu riêng biệt, không giống như chôn những người khác.” (tr.134)

“Đứa con gái nhỏ của tôi-nó khác biệt. Nó không giống những đứa trẻ khác.
Nó còn nhỏ và nó hỏi tôi: “Tại sao con không giống những người khác?”
Khi chào đời, nó không phải là một đứa trẻ, nó là một cái bao tải nhỏ bị khâu vá chằng chịt, không có chỗ mở nào, chỉ có đôi mắt. Trong số y bạ của nó ghi: “Bé gái, sinh ra với nhiều bệnh lý phức tạp: không tạo hình hậu môn, không tạo hình âm đạo, không phát triển thận trái”. Đó là nói theo ngôn ngữ y học, nhưng nói đơn giản thì con tôi sinh ra như thế này: không có hậu môn, không có bướm, không có thận. Tôi chứng kiến con mình phải lên bàn mổ vào ngày thứ hai của cuộc đời nó, …
Trong vòng bốn năm, con gái tôi trải qua bốn lần phẫu thuật…. Tôi yêu con gái vô cùng” (tr.138)…

Có vô vàn những sự thật tàn nhẫn và tàn khốc như thế được kể lại trong sách.

Nhưng mặt khác, thần chết lại tìm đến người dân ở Chernobyl trong khuôn mặt vô hình thậm chí là khuôn mặt thiên thần. Phóng xạ là kể địch “vô hình”. Người dân và người lính ở đây không nhìn thấy kẻ địch. Vì thế những người lính gan dạ nhất đã từng chiến đấu ở Afganistan cũng hoảng sợ khi thấy đồng đội chết dưới tay thần chết và mình đang chết dần. Người dân thì sửng sốt không hiểu tại sao mình phải bỏ nhà cửa mà đi, phải đổ sữa đi, không được ăn hoa quả trong vườn trong khi quả vẫn chín, khoai tây vẫn được mùa…

Phóng xạ lan tràn khắp nơi. Nhiều tài xế không hiểu được tại sao chim lại đâm sầm vào cửa kính xe và cho rằng chúng muốn “tự sát”, họ đâu biết lũ chim đã bị mù mắt vì phóng xạ. Nhà đạo diễn phim đã vô cùng ngạc nhiên khi ông đứng trước vườn táo nở hoa mà không hề ngửi thấy hương thơm. Cả đoàn làm phim cũng không ai ngửi thấy. Sự thật là trong môi trường phóng xạ cơ thể con người đã “đóng lại” khứu giác.

Sự cố hạt nhân cũng nổ ra vào thời điểm Liên Xô tan rã. Vì thê cướp bóc, hãm hiếp, ly khai và trả thù bùng phát triền miên. Những người đàn ông bịt mặt vũ trang nhảy lên xe buýt dồn những người đàn ông khác sắc tộc xuống đường và xả súng bắn chết trước mặt trẻ em và phụ nữ. Những toán lính có vũ trang lùng sục người Nga khắp nơi. Một y tá đã vĩnh viễn không thể sống bình thường khi tận mắt chứng kiến một toán đàn ông vũ trang súng máy ném một đứa bé vừa mới sinh xuống dưới đất qua cửa sổ tòa nhà cao tầng chỉ vì y tá không chịu trả lời “Nó là giống người gì?”.

Từng đoàn lính vác súng vào khu vực cách ly bắn hạ cả thú rừng lẫn vật nuôi và chính họ phải ăn những thức ăn được nhuộm trong phóng xạ.

Khu vực cách ly trở thành một vùng đất chết.

Những ai đã từng ở Chernobyl vĩnh viễn không sống được cuộc đời bình thường dù không chết. Người khác xa lánh họ, sợ hãi họ và tránh mặt họ. Những người đã sống trong khu vực cách ly đều bị cách ly vĩnh viễn và bị “giam cầm” ngay khi đã nằm sâu dưới lòng đất với quan tài bọc chì.
Đọc sách, tự nhiên tôi nhớ đến những dòng thơ của nhà thơ Wago Ryoichi, một thầy giáo dạy lịch sử sống ở ngay khu vực nhà máy điện hạt nhân Fukushima của nước Nhật. Khi sự cố xảy ra, ông đã dùng mạng xã hội phát đi những vần thơ tha thiết:


“Nhà ga nơi khu phố anh có đổ nghiêng không? Đồng hồ có chỉ đúng thời gian hiện tại? Chúc ngủ ngon. Không đêm tối nào không gọi đến bình minh. Kẻ du hành, người đưa tiễn, người đón đưa, người trở về. Đi nhé, mừng anh trở lại. Chúc ngủ ngon. Xin hãy trả lại nhà ga cho khu phố của tôi.
“Chúng tôi từng người để lại những chú mèo hoảng sợ. Khi viết tới đây, thì bưu thiếp tới. “Sẽ không đọc nữa”. Nhân loại hoảng sợ. “Có cái gì đó thật kinh hãi”.

Khi khó khăn thì bóp trán chau mày, khi thất vọng thì căm ghét và ném bỏ. “Sẽ xé bỏ”. Vì thế hãy đọc đi. “Dù có đọc thì cũng ích chi đâu”. Xé.

Hãy trả lại phố xưa, hãy trả lại làng, hãy trả lại biển hãy trả lại gió. Tiếng chuông, tiếng thư đến, tiếng thư đi. Hãy trả lại sóng, hãy trả lại cá, hãy trả lại tình yêu, hãy trả lại ánh mặt trời. Tiếng chuông, tiếng thư đến, tiếng thư đi. Hãy trả lại chén rượu, hãy trả lại bà, hãy trả lại lòng tự hào, hãy trả lại Fukushima. Tiếng chuông, tiếng thư đến, tiếng thư đi.

Nếu có giấc mơ tôi sẽ không từ bỏ nó đừng từ bỏ tôi sẽ không bao giờ từ bỏ Tôi sẽ không từ bỏ bản thân mình không được phép từ bỏ đi sinh mệnh . Tôi đã từng nhận rất nhiều những cái chết đầy thương tiếc. Cho chính chúng tôi.”

“Phóng xạ đang rơi
Đêm khuya yên tĩnh”
…
“Với bạn quê hương là gì?
Với tôi quê hương là tất cả
Tôi sẽ chẳng bao giờ từ bỏ quê hương”

Giờ đây, sự cố ở Fukushima được khống chế nhưng khu vực cách ly với bán kính 30km tính từ tâm là nhà máy vĩnh viễn thành vùng đất chết dù vẫn còn vô vàn sinh vật sống. Nhà cửa, mồ mả tồ tiên, ruộng vườn vẫn còn ở đó nhưng rất nhiều người người Nhật không thể về lại nhà mình.
Gấp sách lại rồi, đầu tôi hiện lên những dòng sông đen, những ngọn đồi nham nhở, những kênh rạch bốc mùi, những cánh đồng rau mù mịt thuốc trừ sâu những nhà máy xả khói đen cuồn cuộn, những con đường bụi mù mịt và tắc nghẹn vì xe…

“Tôi sợ con người”-một nhân chứng trong sách đã đau đớn kêu lên như thế! Đấy là tiếng kêu thảm thiết mong chúng ta thức tỉnh lương tâm tự vấn “chúng ta đang làm gì với trái đất này và với chính cuộc sống của mình?”.
Nguyễn Quốc Vương
NewVnNews - Maximilian Carl Emil Weber (Max Weber, 1864 – 1920) là nhà kinh tế chính trị học và xã hội học người Đức, ông được nhìn nhận là một trong bốn người sáng lập ngành xã hội học và quản trị công đương đại.

Sự thờ ơ chính trị là cái chết của nền dân chủ

Weber sợ rằng đời sống chính trị ở cả phương Tây lẫn phương Đông thì vĩnh viễn rơi vào bẫy của hệ thống quản lý quan liêu duy lý. Để chống lại điều đó, ông khuyến khích các lực lượng đối lập như tư bản các tư bản tư nhân, hệ thống đảng phái mang tính cạnh tranh và ban lãnh đạo chính trị mạnh,  tất cả những lực lượng đó đều có thể góp phần ngăn chặn sự thống trị trong địa hạt chính trị của các quan chức chính phủ.   Xem xét theo hướng này,  Những hạn chế của tư tưởng chính trị của ông càng trở nên rõ ràng hơn:  một vài quan điểm về nguyên lý căn bản của cả lý thuyết Marxist lẫn lý thuyết của trường phái tự do chính trị dường như đã không được không quan tâm.

 Ý nghĩa của sự bất bình đẳng to lớn giữa các lực lượng chính trị và giai cấp đã bị hạ thấp vì ông ưu tiên cho Quyền Lực,  nghĩa là Chính sách giữa các tập đoàn lãnh đạo và giữa các quốc gia với nhau.Sự ưu tiên này cuối cùng làm cho cán cân giữ sức mạnh và lẽ phải phụ thuộc vào cách đánh giá của các lãnh tụ được lòng dân,  những người đã bị cuốn vào cuộc cạnh tranh giữa bộ máy quan liêu của nhà nước và bộ máy quan liêu trong lĩnh vực kinh tế;  tức là tình hình nguy hiểm đến mức gần như chấp nhận rằng ngày nay bảo vệ các nguyên lý chủ yếu của chủ nghĩa tự do cổ điển là việc làm bất khả thi. Dường như đó là cơ hội chỉ dành cho những người đã leo lên đến đỉnh để thể hiện như là những cá nhân tự do và bình đẳng.  đây có thể được coi là đánh giá thực tế các xu hướng mang tính kinh nghiệm chủ nghĩa 2 có thể được coi là việc đưa sự phát triển về mặt xã hội và chính trị theo các giá trị được đánh giá một cách sai lầm về mặt lý thuyết.

Giả thuyết của Weber rằng sự phát triển của bộ máy quan liêu sẽ làm gia tăng quyền lực của những người đứng trên những nấc thang cao nhất của bộ máy quản lý dẫn đến việc ông phủ nhận các phương cách,  theo đó những người ở vị trí thấp có thể tăng cường được quyền lực của mình. trong các hệ thống quan liêu hiện đại vẫn còn những khoảng trống để những người có địa vị thấp giành được hoặc giành lại quyền kiểm soát khi thi hành nhiệm vụ trong tổ chức của họ” (Ví dụ như cản trở hai ngăn chặn việc thu thập các thông tin quan trọng để ra quyết định ở Trung ương (Giddens 1979, trang 147-148). các tổ chức quan liêu có thể gia tăng khả năng phát từ bên dưới và ngăn chặn sự kiểm soát của cấp trên. Weber không thể hiện đúng những quá trình tổ chức Nội tại và ý nghĩa của chúng đối với sự phát triển trong các lĩnh vực khác.

Hơn nữa,  việc không đánh giá thấp sức mạnh của các viên chức cấp thấp còn liên quan đến một khó khăn nữa: đó là việc công nhận một cách thiếu phê phán tính thụ động của đám đông công dân, tức là công nhận sự kém hiểu biết, thiếu tận tụy và không muốn tham gia vào chính trị của họ. Lý giải của Weber bao gồm hai khía cạnh: chỉ một ít người có khả năng và quan tâm đến hoạt động chính trị, và chỉ có ban lãnh đạo có năng lực cùng với bộ máy quản lý quan liêu về hệ thống đại nghị mới có thể giải quyết được sự phức tạp, xoay xở được với các vấn đề, và  đưa ra được quyết định mà thôi.

Thứ nhất, quan điểm của Weber dựa một phần vào khẳng định đáng ngờ rằng cử tri đoàn có thể đánh giá được các nhóm lãnh đạo khác nhau và không có khả năng đưa ra phán quyết về chính sách trên cơ sở giá trị của các chính sách đó. Dựa trên cơ sở nào mà khẳng định như thế? Nếu cho rằng cử tri đoàn không có khả năng suy nghĩ thấu đáo được các vấn đề có ý nghĩa quan trọng về mặt chính trị thì làm sao có thể tin vào quyết định của cử tri khi họ lựa chọn các nhà lãnh đạo với những lời tuyên bố trái ngược nhau về kiến thức và khả năng sáng tạo của họ? Dường như không được nhất quán, và trên thực thế việc cho rằng cử tri có khả năng làm cái sau (chọn nhà lãnh đạo) mà lại không công nhận tài năng nói cung (và cao hơn) của họ là một sự vô đoán.

Tệ sùng bái cá nhân, tôn vinh và thần thánh hóa lãnh đạo là một trong những cách hiệu quả để giữ một nền độc tài và kiềm hãm dân chủ tại một số quốc gia như Trung Quốc, Việt Nam, Triều Tiên

Thứ hai, ý kiến của Weber về sự vong thân của dân chúng đối với  “quyền sở hữu các phương tiện quản lí” có thể được lí giải như là nguyên nhân đưa đến các vòng luẩn quẩn của sự tham gia một cách giới hạn hoặc không tham gia vào các hoạt động chính trị. Nhiều người tuyên bố rằng, công việc của chính phủ và chính sách quốc gia là những vấn đề không thể hiểu được và cũng không phải việc mà họ thường quan tâm. Điều quan trọng là những người ở gần nhất với các trung tâm quyền lực và đặc quyền  đặc lợi (trên hết là đàn ông trong các giai cấp cai trị) lại là những người tỏ ra quan tâm và thích hoạt động chính trị hơn cả. Tuy nhiên, có thể những người không quan tâm đến chính trị làm như thế chính vì họ cảm thấy “chính trị” là việc xa vời, vì họ cảm thấy nó không ảnh hưởng trực tiếp đến họ và/hoặc họ không đủ sức tác động đến tiến trình của nó.

Điều đặc biệt quan trọng là khi vấn đề càng có ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của người dân (bất cứ loại nào) và những người bị ảnh hưởng càng tin rằng đóng góp của họ trong quá trình ra quyết định được xem xét, nghĩa là được cân nhắc một cách công bằng so với ý kiến của những người khác, chứ không bị những người có nhiều quyền lực hơn bỏ qua hoặc lờ đi; thì  người ta càng tích cực tham gia vào quá trình ra quyết định hơn.

Bản chất của chế độ dân chủ, như các lí thuyết gia dân chủ chủ tự do trường phái bảo vệ đã nhấn mạnh một cách đúng đắn, là khả năng của công dân trong việc thay chính phủ này bằng chính phủ khác và do đó bảo vệ họ khỏi nguy cơ là những người có quyền ra quyết định chính trị tự chuyển hóa thành lực lượng bất di bất di bất dịch. Chừng nào chính phủ có thể bị thay thế và chừng nào cử tri có quyền lựa chọn giữa (ít nhất là hai) cương lĩnh của các đảng khác nhau về đại thể, thì nguy cơ của nạn độc tài là có thể ngăn chặn được. Chế độ dân chủ là cơ chế cho phép ghi nhận những nguyện vọng khác nhau của những người bình thường, trong khi giao chính sách công vào tay một ít người có kinh nghiệm và có năng lực giải quyết. Với sự đa dạng của các nguyện vọng cá nhân và một tập hợp, chắc chắn là rất lớn (và phân tán) các yêu cầu đối với chính phủ, đã được phân tích một cách đầy đủ trong trước tác của Weber, thì cần phải có một cơ chế để chọn những người có khả năng đưa ra “một tập hợp những quyết định có thể chấp nhận được hoặc không thể chấp nhận được cho toàn bộ những đòi hỏi khác nhau của các cá nhân”

Nguồn: Các mô hình quản lý nhà nước hiện đại, David Held, Phạm Nguyên Trường dịch
Theo Quan Hệ Quốc Tế

NewVnNews

“Cười chảy nước mắt” là lời bình, mà cũng là nỗi đau đời của tác giả sau khi chép lại những vần ca dao châm biếm những “chuyện lạ” thời bao cấp. Có lẽ đây cũng là “cảm hứng” chủ đạo của đa số độc giả khi đọc Sống thời bao cấp - tác phẩm của nhà thơ Ngô Minh.


Trong lời “Tựa”, tác giả tâm sự: “Tôi viết cuốn tự truyện này để nhắc lại với bạn bè, người thân... cái thời thật đáng ghét - thật đáng thương, thật đáng quên - thật đáng nhớ, giữa ngổn ngang những bi hài cay cực là những tấm lòng “sống để yêu nhau”...”.

Tuy vậy, bìa cuốn sách lại ghi là “Ký”. Quả là cuốn sách gần như có hai phần: tự truyện một quãng đời của Ngô Minh và ghi chép những chuyện bi hài thời bao cấp mà tác giả đã chứng kiến hoặc nghe nhiều người kể lại.

30 năm qua, chuyện bi hài thời bao cấp đã được tái hiện qua nhiều loại hình (báo chí, tác phẩm văn học, phim ảnh, triển lãm) nên không còn “lạ lùng” nữa, nhưng với thế mạnh là một nhà báo xông xáo trưởng thành từ ngành “thương nghiệp xã hội chủ nghĩa”, lại quen biết rất nhiều văn nghệ sĩ tên tuổi, nên cuốn sách của Ngô Minh là một tập hợp phong phú về những chuyện “lạ” đó.

Từ chuyện xếp hàng hứng nước, mua rau, đi vệ sinh, rồi cảnh chen chúc tàu xe đến “tè” ra cả quần...

Xếp hàng thời bao cấp - Ảnh: Nhà ngoại giao Anh John Ramsden
“Vui” hơn là cảnh nhạc sĩ Trịnh Công Sơn ngồi tỉ mẩn thu các tem gạo của hội viên từ Quảng Bình, Quảng Trị vô Huế dự Đại hội Văn nghệ Bình Trị Thiên, hay như chuyện nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường, hồi mới ở vùng giải phóng Quảng Trị ra, xếp hàng mua bánh mì chán chê, đến lượt, cô bán hàng hỏi “tem đâu?”, nhà văn ngớ ra, rồi loay hoay đưa cái... tem gửi thư, cô bán hàng cười như nắc nẻ, bảo “không có tem, mời bố tránh mau ra cho người khác mua” và “Hoàng Phủ tiu nghỉu lủi mất”...

Nói cho công bằng, là người trong “nghề”, tác giả cũng thông cảm với những khó nhọc ít ai hình dung được của nghề “thương nghiệp quốc doanh” thời đó.

Như có nhân viên bán hàng về, tem phiếu li ti chưa kịp xếp dán lại để “cân đối” hàng hóa thì con nghịch quạt tung tóe hết, vất vả mấy cũng phải tìm gom lại cho đủ.

Mặt khác, tác giả cũng tự thú có lúc “đã hăng hái tham gia sự điên rồ duy ý thời bao cấp đó một cách u mê, tự nguyện” do đã theo lệnh một giám đốc viết cuốn sách ca tụng “cây thuốc lá” phát cho cả ngàn hộ ở Thừa Thiên - Huế để rồi sau hai năm thua lỗ, nhà máy phải đóng cửa!...

Chính vì thế mà dòng kết cuốn sách, Ngô Minh viết: “Tôi mong mỏi đất nước tôi không bao giờ trở lại chế độ quan liêu bao cấp ấy nữa”.

Tuổi Trẻ
NewVnNews

NewVnNews - Mấy hôm nay trên mạng chia sẻ mạnh bài viết này nói về tâm thư của nữ tiến sĩ trẻ chết vì ung thư. Thật ra không phải là tâm thư mà là cô để lại 80 trang nhật ký bằng Blog đã được xuất bản thành sách tựa đề "Kiếp này chưa đi trọn vẹn", bài này dịch giả Lương Hà chuyển dịch tiếp kỳ 2.




Xem kỳ 1

Vu Đan nói: "Ý chí của một người có thể càng ngày càng kiên cường hơn, nhưng tâm linh thì càng lúc càng yếu mềm đi". Trong vô thức tôi đã làm tới điểm này. Giờ mới phát hiện, hai thứ ấy vốn liên thông với nhau.

Đầu trọc có một người em trai họ tên Hải, chỉ học tới cấp 2 rồi bán sức lao động để duy trì sinh kế. Mười mấy năm trước từng làm việc ở Thượng Hải một thời gian, nên cũng có qua lại thân tình với tôi. Sau này do công việc, kết hôn, sinh con rồi định cư luôn ở Định Hải. Do hàng năm về nhà bà nội ăn tết không tiện nên mới chốc đó đã mười mấy năm không gặp.

Chuyện tôi mắc ung thư vú vốn ở trạng thái úp úp mở mở, bà con bên chồng khi biết được tôi lâm trọng bệnh là chuyện đã qua hai ba tháng rồi. Nhưng có điều thú vị là, có lẽ do chịu ảnh hưởng của văn hóa, địa phương và phong tục mà ung thư vú cũng có sắc thái riêng. Khi mọi người bàn chuyện bệnh tình của tôi, đặc biệt là nói với thanh niên trai tráng, rất ít người nói ra cụ thể. Thế nên có một đêm nọ, đầu trọc nhận được tin nhắn như thế này: anh ơi, em nghe chị dâu bị bệnh nặng. Em không có tiền giúp được anh chị nên áy náy lắm. Nhưng nếu cần xương tủy, thận tạng gì đó thì em hiến cho!"

Đầu trọc xem xong khóc cười chẳng đặng mới đọc cho tôi nghe, tôi cười lớn nói "Nói cậu ấy, em cần cậu ấy hiến vú". Đầu trọc cũng định nhắn trả lời lại y chang lời tôi nói, nhưng giữa chừng quay lại nói: "Thôi đi, anh mà nói vậy, cậu ta không biết chừng là đi bàn với vợ cậu ấy, bảo vợ cậu ta đem vú đi hiến thì càng chết dở à?"

Không biết là đại giác đại ngộ hay là đại si đại mê, một người mắc ung thư giai đoạn cuối như tôi, dù trước giờ thích suy tư nhiều nhưng từ sau khi mắc bệnh lại rất ít nghĩ tới chuyện làm cho mình không vui. Có lẽ đây là cái gọi là tinh thần AQ chăng? Tôi không muốn nói mình đã nhìn thấu sinh tử, nhưng sống chết do số, có thời gian nghĩ miên man mình có thể sống được bao lâu, hậu sự như thế nào chi bằng nhân lúc còn đang sống dở chết dở làm chút chuyện giúp người, làm mọi người vui vẻ. Có thể nói, những ngày sau khi tôi mắc bệnh ung thư là khoảng thời gian nhân tính của tôi thăng hoa nhất.

Hôm nay có thể lại phải bị bắt đưa vào bệnh viện hóa trị. Mỗi lần nghĩ tới hai chữ "Hóa trị" là tôi run rẩy, tiếp theo là toàn thân tê dại. Thay vì nói là phản ứng tâm lý, nói kích ứng lý trí thì chính xác hơn. Lúc nãy ăn sáng cùng người nhà nói chuyện vui về hóa trị và mấy người bạn bệnh, thế nên giờ viết lại chia sẻ với mọi người, cũng để cho những người bình thường hiểu được những hỷ nộ ái ố của những người mắc bệnh ung thư.

Nói về "Vú giả" thì sau khi tôi nhập viên mới nghe nói đến từ này. Thông thường những người mắc bệnh đều phát bệnh sau tuổi 45. Nếu may mắn phát hiện sớm, chưa bị di căn thì sẽ được phẫu thuật cắt bỏ. Trung Quốc có rất nhiều bệnh nhân khi được hỏi "Có muốn giữ vú không?" thì thông thường sẽ mạnh dạn nói "Lo giữ mạng chứ giữ vú có ích gì?" Cho nên phòng hóa trị thông thường người ra vào là những chị em phụ nữ chỉ còn một vú. Tôi là bệnh nhân trẻ tuổi nhất nhưng vận khí xấu nhất, khi phát hiện thì đã phát tán rất nặng, không đủ điều kiện phẫu thuật nữa, cho nên là người duy nhất không cần vú giả.

Bây giờ nghĩ lại, vú có lẽ là cơ quan vô dụng nhất trên cơ thể người phụ nữ, cho nên vú giả không phải thực hiện chức năng như chân tay giả, chỉ cần để cho có thứ nhô nhô ra, sau khi mặc quần áo lên có giá trị nhìn ngắm mà thôi. Vú giả bán rất đắt tiền, hơn 1000 NDT một chiếc kèm một chiếc nịch ngực đặc chế. Nhiều cô dì có tuổi tuy thích đẹp nhưng lại thích tiền hơn, cho nên cảm thấy tốn hơn 1000 để mua một cái túi vải không có ý nghĩa lớn nên tự tay hóa phép làm vú giả (còn tiếp)

Bình luận của báo giới

Trong quá trình đi về phía cái chết u ám như thế mà Vu Quyên lại nỗ lực làm cho con đường ấy trở nên tỏa sáng. "Những thứ không làm bạn chết được cuối sẽ làm cho bạn trở nên mạnh mẽ hơn". Cô nói: "Nếu không so bì được độ dài sinh mệnh dài với người khác, thôi thì so bì độ rộng và chiều sâu vậy" - Trung Quốc Nhật Báo

"Tuần san Bác Văn" của báo chúng tôi từng chia ra hai kỳ đăng nhật ký của Vu Quyên, đã tạo được sức ảnh hưởng mạnh mẽ. Sự yêu quý mạng sống, sự lưu luyến cuộc đời, sự quyến luyến người thân, sự kiên cường chống chọi bệnh tật và thái độ am hiểu sinh tử của cô ấy đã cảm động rất nhiều người cũng đánh thức rất nhiều người - Dương Thành Vãng Báo

Trong khi tự suy xét vì sao mình bệnh ung thư, Vu Quyên muốn là một số việc gì đó có ích, để càng nhiều người hơn hiểu rõ bệnh ung thư mà lánh xa nó. Vu Quyên đã mở một Blog lấy tên " Sống chính là vương đạo", dùng hơn một năm trong thời gian gian bệnh viết nhật ký chống chọi bệnh ung thư. Nhân sinh quan yêu đời và khoáng đạt của cô ấy đã gây xúc động sâu sắc vô số người - Tân Khoái Báo

Năm xưa khi Vu Quyên đi Na Uy học Kinh tế môi trường,  đã bị những cánh rừng tươi tốt của Na Uy làm cho thảng thốt, lòng nguyện sẽ mang Na Uy về nhà. Sau khi trở về nước, những bận bịu đã khiến chuyện này tạm gát qua một bên. Sau khi mắc bệnh ung thư mới nhặt lại lời nguyện cũ, mang chuyện này trịnh trọng gởi gắm cho mẹ mình. "Rừng Na Uy" được chọn đặt trên sườn đồi trọc phía đông nhà cũ của Vu Quyên. Trong hơn 1 năm trước, mẹ của Vu Quyên thường xuyên làm bất chấp mọi điều để thực hiện cho được nguyện vọng của hai mẹ con biến ngọn đồi hoang này thành "Khu rừng vạn mẫu" và hy vọng xin phép làm Trung tâm hợp tác nghiên cứu tài nguyên rừng Trung Quốc - Na Uy - Tân Văn Thần Báo

NewVnNews

NewVnNews - Mấy hôm nay trên mạng chia sẻ mạnh bài viết này nói về tâm thư của nữ tiến sĩ trẻ chết vì ung thư . Thật ra không phải là tâm thư mà là cô để lại 80 trang nhật ký bằng Blog đã được xuất bản thành sách tựa đề "Kiếp này chưa đi trọn vẹn", dịch giả Lương Hà chuyển dịch.




"Tôi luôn cho rằng mình là một người kiên cường ngoại hạng.

Tuần cuối cùng của năm 2009 tôi được xe cứu thương đưa vào bệnh viện RJ, đặt vào phòng cấp cứu.
Chủ nhiệm phòng bệnh lý nhìn thấy tấm phim chụp CT toàn thân tôi đen ngòm bèn hỏi liền một câu "Bệnh nhân hiện đang giảm đau bằng gì?"

Đầu trọc (tôi gọi chồng thân mật bằng Đầu trọc) trả lời "Dạ hiện không có dùng bất cứ loại thuốc giảm đau nào hết"

Vị chủ nhiệm hơn 40 tuổi phà ra một hơi thở dài, nhả từng câu từng chữ một nói " Thường người bệnh tới bước này như cô ta thì đều đau nhức đến muốn chết"

Lúc nghe đoạn đối thoại này, tôi chỉ nín thở, cắn chặt răng ráng chịu đựng, chưa có chết, cũng chưa khóc.

Phòng cấp cứu có lẽ giống như bức tường địa ngục, một cánh cửa tự động mở mọi lúc, hễ mở ra là mang bệnh nhân nguy cấp cùng gió đông hàn lạnh đi vào.

Những bệnh nhân cùng phòng tôi tuy đều nằm trên giường nhưng xem ra tinh thần đều khá hơn tôi, chí ít họ không phải đau đớn đến nỗi chẳng động đậy nổi. Nhưng mà những người hàng xóm này, giữa đêm hai giờ phất cờ gióng trống đi vào nằm cách tôi không tới hai bước chân, chưa đợi tôi có tinh thần chào hỏi xã giao thì đến hơn 5 giờ tôi đã bị tiếng gào khóc của gia quyến họ đánh thức, drap trắng đắp phủ kín mặt.

Cứ tim gan kinh hãi như vậy suốt 3 ngày 2 đêm. Tôi không khóc, biểu hiện lý trí đến lạ thường. Tôi chỉ dùng chút ít sức lực lúc liền lúc đứt còn sót trong người ghi lại mấy bức di thư, an ủi mẹ tôi nhìn thấu đáo chuyện sống chết cuộc đời.

Sau đó, một ngày hai lần chích xuyên xương tủy. Đâm vào xương cốt đối với tôi mà nói thật ra cũng không phải là đau đớn. Đầu trọc ở bên cạnh thấy tôi bị chích vào xương, quay mặt vào tường không nỡ xem tiếp, mẹ tôi thì cũng đã trên bờ suy sụp tinh thần.

Điều tôi đau đớn lúc ấy là tế bào phá xương đã lan khắp toàn thân, thân thể không chịu đựng nổi xúc chạm, chạm vô là như muốn chết đi sống lại. Sự đau đớn đó không phải do đâm vô xương mà do tế bào ung thư mỗi phút mỗi giây đang gặm nhấm xương cốt.

Tôi vẫn không khóc, không phải vì kiên cường mà bởi vì đau đến nỗi không nghĩ được tới chuyện khóc. Lúc đó chỉ có thể gắng hết sức chịu đựng. Nếu hơi lơ là phân tâm thì sẽ đau đến ngất. Tôi thì không muốn người nhà nhìn thấy sự đau đớn của mình.

Vào ngày đầu năm, xác chẩn nói tôi bị ung thư vú kỳ thứ tư, cũng tức là giai đoạn cuối, tôi thở ra một hơi dài, không khóc, mà ngược lại còn cười ha hả trong nội tâm. Bởi vì kết quả này là một trong những kết quả tốt nhất trong dự đoán của tôi. Đã mắc ung thư thì ung thư vú cũng coi như là loại mạnh mẽ. Còn việc giai đoạn cuối tôi đã sớm biết trước. Toàn thân không thể động đậy, không phải đã phát tán di căn thì còn có thể là gì nữa?

Phát hiện quá trễ tế bào ung thư gần như phát tán đến mọi xương cốt quan trọng, không thể phẫu thuật nên thế là hóa trị. Thứ hóa trị như địa ngục ấy, lúc ban đầu phản ứng rất dữ, nôn mửa liên tục. Khi đó toàn thân tôi không thể nhúc nhích, dù nôn mửa cũng chỉ có thể nghiêng đầu, nhiều lắm là 45 độ. Trên người, trên gối, trên chăn, trên quần áo đều là mấy thứ nôn mửa ra. Có lúc đồ ăn còn bắn ra từ khoang mũi, mỗi ngày ói mấy chục lượt.

Thật ra, nôn mửa thì mặc nôn mửa, nhưng đáng sợ nhất là, khi nôn sẽ kéo theo chấn động lồng ngực, mà cột sống và xương sườn tôi hễ chấn động thì đau đến nỗi có thể làm ngất đi. Người ta hình dung đau đến thấu xương, tôi nghĩ bây giờ mình đã thật sự hiểu rõ cái tinh tủy của từ này. Mỗi ngày mấy chục lần nôn mửa là mấy chục lần tôi đau đến phát ngất.

Người ta lúc hóa trị thì mấy thứ lục phủ ngũ tạng khó chịu, tôi cũng vậy, có điều nó không đáng nhắc tới. Lúc đó, tôi vẫn không khóc. Bởi vì tôi nghĩ, cứ tiếp tục kiên trì, tôi sẽ có thể sống tiếp.

Sau 6 lần hóa trị, tôi trở về nhà, Con trai Khoai Tây 19 tháng tuổi, thằng bé vui sướng tung tăng quay bám mẹ. Bà ngoại bảo Khoai Tây hát cho mẹ nghe đi. Tôi đặt thằng bé ngồi trên đầu gối, thằng bé bi bô hát tới đoạn "Trên đời chỉ có mẹ là tốt, con có mẹ như là báu vật". Lời ca chưa dứt nước mắt tôi đã tuôn chảy trước rồi, có thể rồi đây, chỉ cần xê xích một chút một chút xíu thôi, con trai tôi rồi sẽ trở thành cỏ rác..." (Còn tiếp)

Lời nhà xuất bản

Thái độ sống lạc quan, tích cực chống chọi với số phận.Vu Quyên viết: "Tôi tin mình sẽ trở thành kỳ tích", "Mặc kệ bệnh đau, con người không có đau khổ nào mà không chịu đựng được, không phải tôi vẫn sống đó sao? Biết đủ cả rồi". "Sống chính là vương đạo".

Quan niệm sống khỏe mạnh và hạnh phúc. Vu Quyên thông qua việc hối cải lối sống thiếu lành mạnh của mình đã cảnh tỉnh độc giả, đặc biệt là những người trẻ đừng nên phung phí sức khỏe, hoang phí hạnh phúc, phải cảm ơn cuộc sống, tôn trọng sinh mệnh. Cô viết: " Mua xe mua nhà chứ có thể nào mua được sức khỏe", "Thức khuya trường kỳ đồng nghĩa với tự sát từ từ".

Quan điểm giáo dục mạng sống (Giáo dục về tử vong) đúng đắn. Giáo dục về chuyện sống chết được rất nhiều quốc gia Tây phương coi trọng. Một số trường đại học còn có chuyên khoa dạy "Tử vong", trong khi trong nước đề tài này khá là nhạy cảm. Vu Quyên kêu gọi dùng lý trí đối đãi cái chết, từ đó biết trân quý sinh mệnh, trân quý tình cảm, trân quý cuộc sống.

NewVnNews

NewVnnews - Quyển sách 'Nghiên cứu tín ngưỡng Hùng Vương ở Việt Nam của  Từ Phương Vũ là một bộ sử biên niên đầy đủ nhất hiện nay về tín ngưỡng thờ cúng Hùng vương của người Việt. Nghiên cứu này đã đặt ra một câu hỏi lớn cho người Việt, Tín ngưỡng Hùng Vương có nên bỏ?


Theo Từ Phương Vũ, tín ngưỡng này khởi nguồn từ việc thờ cúng thần núi thế kỉ 15 của Làng Cả dưới chân ngọn núi nay là núi Hùng. Trong suốt thế kỷ 15 đến hết thế kỉ 18, tín ngưỡng này vẫn chỉ là một tín ngưỡng địa phương, không được ai chú ý.

Đến thế kỉ 19, dưới áp lực của việc giải thích lại lịch sử, triều Nguyễn bắt đầu xây dựng hình ảnh Hùng Vương như những ông vua đầu tiên của người Việt, nhằm mục đích chứng minh rằng các triều đại Việt Nam, cũng hoành tráng và không kém cạnh gì với người Trung Quốc. Thế là đẻ ra câu chuyện 18 đời Hùng Vương cùng lịch sử Việt Nam với 4000-5000 năm lịch sử.

Cuối thế kỉ 19 đầu thế kỉ 20, người Việt Nam đánh lại thực dân Pháp, hình ảnh Hùng Vương được gắn liền với hình ảnh dòng máu, chủng tộc để trở thành thủy tổ, tổ tiên của người Việt. Những người đầu tiên nói về Hùng Vương như là thủy tổ của người Việt là những chí sĩ chống Pháp cuối thế kỉ 19 như Nguyễn Quang Bích, Ngô Quang Đoan, Dương Bá Trạc, Dương Tự Nhu. Đông Kinh Nghĩa thục và Việt Nam Quang Phục Hội tham gia tích cực vào quá trình này. Từ lúc này những câu chuyện về Tổ tiên Lạc Hồng, Dòng máu Lạc Hồng, Hậu duệ Lạc Long, con cháu Lạc Hồng, giống Rồng Tiên mới bắt đầu xuất hiện và phổ biến.

Dưới triều vua Khải Định và ảnh hưởng của người Pháp, huyền thoại Hùng vương nhận được sự hỗ trợ mạnh mẽ từ triều đình Nguyễn và người Pháp để thuyết minh cho một nguồn gốc của một Việt Nam khác Trung Quốc. Những phát ngôn về nòi giống Việt, nòi giống Rồng Tiên, dân ta nòi giống thông minh, nhân dân đồng bào,... xuất hiện dày đặc trong những phát ngôn của những nhà Nho và vua chúa trong khoảng 20 năm đầu thế kỉ XX.

Dưới triều Khải Định, năm 1917, triều Nguyễn đã hỗ trợ cho những hoạt động kỉ niệm ngày giỗ Hùng vương ở tỉnh Phú Thọ. Tuần phủ Phú Thọ là Lê Trung Ngọc xin tổ chức vào ngày mùng 10 tháng 03 vì ngày 11 tháng 03 là lễ hội thần thổ địa của địa phương (ngay sau đó lễ hội này cũng được "biến tướng" thành ngày giỗ Hùng vương thứ 18). Tổ chức vào ngày này sẽ thu hút được nhiều người tham quan là những người tham dự lễ hội địa phương. Thế là từ đấy ngày 10 tháng 03 âm lịch thành ngày giỗ tổ. Các nghi lễ tế tự Hùng vương cũng bắt đầu được quy định vào thời gian này.

Sách có những ghi chép rất thú vị về việc thờ cúng Hùng vương kèm những nghi lễ sáng tạo trong việc thờ cúng Hùng Vương thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Đây là quyển sách đầu tiên đề cập đến tín ngưỡng Hùng Vương như là một yếu tố góp phần duy trì quyền lực xã hội chủ nghĩa. Trong bối cảnh xã hội Việt Nam đương đại, duy trì niềm tin vào Hùng Vương có ý nghĩa rất lớn trong việc đảm bảo hiệu quả của việc quản trị xã hội.


Bìa cuốn sách Nghiên cứu tín ngưỡng Hùng Vương ở Việt Nam
越南雄王信仰研究
Tác giả: Xu Fangyu 徐方宇
Nhà xuất bản: Trung Quốc xuất bản tập đoàn
Năm xuất bản: 2014 (Tiếng Trung)

Cuốn sách còn ghi nhận một điều khá trùng hợp là thời kỳ này ở Trung Quốc người ta cũng định xây dựng hình ảnh Hoàng Đế là thủy tổ của người Trung Quốc, nhưng sau giới trí thức phản đối quá, chính quyền Trung Quốc bỏ luôn. Câu hỏi là liệu Việt Nam có muốn bỏ không?

(Đọc sách 'Nghiên cứu tín ngưỡng Hùng Vương ở Việt Nam của  Từ Phương Vũ)
Anh bạn cũ, mới nối lại được sau bao nhiêu năm tháng, ghé qua chơi. Anh ngắm quanh nhà, không thấy tôi đặt bàn thờ những người thân đã mất ở đâu, bèn ngỏ ý "tại sao »? Tôi bảo “anh có thể sẽ là người giàu đấy, vì câu hỏi của anh tuy giản dị nhưng có tiềm năng đáng giá ngàn vàng ».

Mỗi ai đã đặt chân lên mảnh đất Á Đông đều sớm nhận ra rằng: cái chết nằm trong toạ độ căn bản của việc tôn thờ.

Trong một gia đình, một khi ai đã chết, bất kể họ có một bảng thành tích hay, hoặc dở ra sao, đều được « sạch hoá », « linh thiêng hoá », được « phong thánh » - dù là ở hạng áp chót. Vua chúa thì mơ giấc mơ cổ truyền sẽ có được lăng mộ thật lớn lao, còn quan và dân thì tuỳ theo túi tiền cùng sức ảnh hưởng của mình mà mở cuộc cạnh tranh cho tương lai mồ yên mả đẹp, nhà thờ lớn hoặc nhỏ. Từ tinh thần yêu thương nuối tiếc người đã chết, người ta đi về phía cực đoan bên kia của tinh thần: người sống là tục, là hèn, người chết là thiêng, là cao. Xa thêm hơn nữa, người ta cậy vào người đã chết, cậy vào đến mỗi lời nói của họ, thậm chí vặn vẹo lại cả lời người đã chết, quá đi nữa thì bịa ra cả lời của họ, để bắt nạt và khống chế người đang sống.

Sự bi luỵ, thểu não, tiều tuỵ về tinh thần cũng đến từ nơi đây.

Việc thờ cái chết đi rất xa, với đủ các lễ lạt. Đã chết rồi, lại còn phải cầu siêu, đều đặn nhiều lần, nếu không thì “linh hồn của người đã chết sẽ không chịu chết hẳn, cứ quẩn quanh ở nhà ». Tu tập thì phải thấu dừ kĩ, đến mức làm sao thoát được khỏi bị sinh ra trở lại ở đời. Bạn cứ nghĩ cho thật kĩ đi, sự sống quả thực là bị hạ nhục. Cái chết đã trở thành mục đích của sự sống.

Từ lối nhìn này về cuộc sống, con người bị kéo lùi mãi mãi về quá khứ, lấy quá khứ làm chuẩn mực, làm thước đo, làm chân lý, làm thứ thần linh hù doạ. Con người bị tê liệt, sống mòn chờ ngày « hiển thánh ». Sống dầu đèn, chết kèn trống. Cái chết đã được tôn lên thành ra ý nghĩa, thành lý tưởng của cuộc sống. Vì quá khứ quan trọng đến như thế, người ta sẽ có xu hướng tắm rửa, thêu dệt, huyền thoại hóa cái quá khứ, cái quá khứ của mỗi người, của mỗi nhà, của mỗi dòng họ, của mỗi làng xóm, của mỗi cộng đồng. Người ta lầm lạc việc tôn trọng người đã chết với việc phong thánh cho họ.
Những câu chuyện như thế này: bất tận.

Quá khứ thật là quí báu khi nó là một tổng thể những sự thật giản dị, chúng làm nên những bài học đắt giá cho hành trình tiếp đến của cuộc sống. Nhưng khi các sự kiện của quá khứ được thêu dệt, được huyền thoại hóa, chúng trở thành những bài học giả, chúng làm cho chúng ta hoa mắt, lầm lẫn, làm chúng ta học sai, làm chúng ta an tâm lặp đi lặp lại không chán những sai lạc đắt giá.

Vừa dùng trà, tôi vừa giở những quyển ảnh xưa ra xem cùng anh bạn. “Những quyển ảnh này thuộc về những ban thờ của tôi đây, nhẹ nhàng, gần gụi, lắng sâu, kín đáo. Tôi chủ trương thờ sự sống, thờ việc hướng về vui sống.”

Với người rất thân đã mất đi, tôi nhìn nhận như họ đã đi xa, rất xa. Và tôi chủ định làm một bữa cơm nho nhỏ, khi nào trót bận quá thì một ly rượu riêng, ngắm lại những quyển ảnh xưa, tự ôn lại vài kỉ niệm... vào mỗi ngày sinh của họ, và cả vào những khoảnh khắc tự nhiên khác nữa, như thể họ vẫn đang cùng sống với mình, như trong suốt cuộc đời vẫn thế. Kỉ niệm ngày sinh của người đã mất, còn có cách gì gần gụi hơn, quen thuộc hơn, như thể trong suốt cuộc đời chúng ta đã cùng với họ bên nhau? Ngày chết thực tế là một ngày xa lạ, sầu thảm của người đó đối với những người đang sống. Người đã chết chưa bao giờ chia sẻ cái ngày họ chết với người thân đang còn sống! Và không ai có thể kết án chúng ta phải suốt đời đi săn sự sầu thảm, phải đi tìm kiếm sự thương hại bế tắc, vô vọng.
Câu chuyện này đối với riêng tôi thì chả có gì là quan trọng quá. Tôi là hạt bụi, hơn thế nữa, tôi có ý thức để trở thành hạt bụi ngày càng khiêm tốn hơn, trong cuộc sống này.

Nhưng nếu như cả một xã hội, hoặc một phần lớn xã hội chuyển đổi chuẩn mực, đổi việc tôn thờ cái chết thành tôn thờ sự sống, thì đó lại là một bước ngoặt vĩ đại trong đời sống của con người. Khi ấy, chúng ta sẽ biết quí trọng nhau hơn trong bản thân cuộc đời này, từng năm, từng tháng, từng ngày, từng giờ.

Khi ấy, chúng ta sẽ thành thực với nhau hơn, thay vì say sưa đem người đã chết ra doạ nhau, dọa từ lý trí đến dọa đức hạnh. Khi ấy, các « chân lý vĩnh cửu » sẽ tự lỉnh đi, vì chúng không còn nấp được đằng sau những thần linh của cái chết.

Khi ấy, những người thân đã chết sẽ « gần gụi » với chúng ta hơn, vẫn như thường khi trong cuộc đời, chừng nào thiên nhiên còn cho chúng ta biết nhớ đến họ một cách mộc mạc, thật thà.

Và rồi từ đó chúng ta sẽ có nhiều sáng kiến cho cuộc đời vui lên. Đi dọc đất nước đau thương trải dài qua chiến tranh, nghèo đói, lạc hậu, tôi thấy miên man các nghĩa trang trải trên những miền đất nghèo chật hẹp. Thôi tôn sùng cái chết, chúng ta sẽ chấp nhận dần sự ra đi của chính mình và của người thân bằng việc rải tro bụi của mình và của họ xuống núi rừng sông biển. Mỗi khu vực nghĩa trang như thế này sẽ được dành chỗ lại cho việc cải dựng lên ở đó một « tổ hợp thể thao - văn hoá" cho cụm dân cư phường-làng.

Dừng một chút cho câu chuyện « tổ hợp thể thao - văn hoá ». Đó sẽ là trung tâm đời sống tinh thần của một khu dân cư. Ở đó, nửa lớn này là khu thể thao cho mọi loại hình ngoài trời và trong nhà: ngoài trời thì những sân bóng đá, sân bóng bầu dục, có điều kiện nữa thì sân chơi ngựa… trong nhà thì các phòng chơi bóng rổ, bóng ném, bóng bàn, cầu lông, tập thể hình, tập võ… vừa ngoài trời vừa trong nhà nối nhau thì các bể bơi, các sân tennis… Ở đó, nửa lớn kia là khu văn hoá, với thư viện multimedia rộng lớn kết nối internet, các phòng dạy và luyện các môn múa, nhạc, hát, kịch, chụp ảnh, vẽ, làm phim, làm nhạc, viết văn… Trong khu này có rạp biểu diễn, nơi các học viên tự biểu diễn, hội hè, hội thảo, và giao lưu với các bạn bè từ các trung tâm thể thao văn hoá khác, và từ muôn nơi trên Trái Đất này.

Cuộc sống hướng về vui sống là một cuộc sống đối lập với cuộc sống hướng về sầu thảm bi luỵ. Tất cả các chuẩn mực tinh thần khi đó sẽ dần dà được sắp xếp lại vì sự tiến hoá, con người sẽ trở nên giản dị, thành thật, năng động, sáng tạo, lạc quan, kiến thiết.

Anh bạn giục mở chai rượu quà của mình, với chút ưu tư « nhưng mà nhiều người muốn giữ tục xưa… »

Hướng về vui sống là cuộc xoay chuyển tọa độ hướng đích. Sự rộng lòng trong tinh thần của mỗi người, của cộng đồng có ý nghĩa nền tảng, và phải được khẳng định thành nguyên tắc của đời sống. Ai muốn giữ tục xưa thì họ vẫn tiếp tục, không ai ép họ, nhưng họ phải thôi dùng bạo lực tinh thần để ngăn cản những ai khác muốn kiến thiết và xác lập đời sống riêng tư và hội đoàn khác đi. Sống, nhìn suốt chiều dài lịch sử, rốt cục vẫn là lựa chọn, tuy rằng có thể đã hơi quá lạm tốn thời gian. Con người, mỗi người và mỗi nhóm người, phải tự sáng tạo ra chính mình, để trở thành con người. Không có cách nào khác. Chính vì thế mà loài khỉ cổ đại tổ tiên của chúng ta đã thôi là loài khỉ, và chúng ta phải biết ơn họ, biết ơn bằng việc sẽ đi tiếp được con đường tiến hóa của họ.

Anh bạn ngả người, vui vẻ « nào ông bạn, vui Tết sắp về nào. Tôi xin nâng cốc cho một đời sống hướng về vui sống !».

Mới Nhất

Đọc Nhiều